11-06-2013

Hư cấu

Trong những ngày hiếm quý còn lại của anh
Có một vài câu chuyện nhỏ
Tất cả mọi điều đều vô nghĩa
Nên những nhân vật được đến với nhau

Trong những ngày tuổi trẻ của em
Có những giấc mơ về hoa gạo
nở một đời - như lửa
cháy trong trời - rất mưa

Trong những ngày anh ngồi bên em
không dám bước qua một điều gì cả
Sợ mất những điều vô nghĩa
(mà ta đã có quá nhiều)...


05-06-2013

Tuyết trà - Các tác phẩm đoạn đầu đời viết


Sách mới:
 

“Ngoại tôi không bao giờ rót nước tráng trà rồi đổ thứ nước đầu tiên đó đi như thường thấy ở hầu hết nơi khác. Người giữ lại tuyết trà.
Ngoại từng nói với tôi rằng, trong kỹ nghệ chế biến trà búp, có công đoạn vò cho dập đều búp trà. Búp trà chảy nhựa và khi sao thì thứ nhựa đó bám vào, khô quyện lên trông tựa như thứ bột màu trắng. Đó chính là tuyết trà.”
Tôi lưu lại những tác phẩm của đoạn đầu đời văn trong tuyển tập này. Tác phẩm được độc giả dành thời gian quý báu để đọc là một điều ưu ái rất lớn cho người viết. Bởi lẽ, tôi cũng tự hiểu rằng đoạn đầu đời viết dù cảm xúc trọn vẹn nhưng câu từ chữ nghĩa của tôi còn có nhiều vụng về. Trong khi độc giả đến với tác phẩm là do duyên, còn ở lại được với tác phẩm dù một đôi dòng, là do giá trị thực của tác phẩm và nhãn chủ quan của người đọc.
Để có được tất thảy những dòng viết trong đời văn của mình, tôi xin cảm tạ Người sinh thành, Người giáo dưỡng tôi, cảm tạ những Người Thầy đã dìu dắt chỉ dẫn tôi cách viết – là những người không đứng trên bục giảng, có người đến với tôi bằng tác phẩm của họ để lại cho hậu thế, và có người đến chỉ dẫn tôi trực tiếp với những tận tâm của những người đi trước với lớp em cầm viết thế hệ sau.
Tôi cảm tạ Người Thầy lớn nhất – là Cuộc Đời. Những câu chuyện buồn vui, đau khổ, những thất bại hay thành công,… tất cả đều đã là chất liệu để viết.
Để tác phẩm đến được với người đọc, thì người viết luôn biết ơn những người đã bỏ công sức ở các khâu từ biên tập tới in ấn, quảng bá và phát hành sách, báo.
Tôi xin gửi sự biết ơn sâu sắc tới tất cả mọi người.
Thân ái.
Tuệ An
 




Các tuyển tập sách có tác phẩm của Tuệ An:




Tiếng đại ngàn



With all my love, Tuệ An wrote the short story "Call from the Nature" for Ms. Jane Goodall, for all my great friends who did and still working in the field of conservation biology, who have devoted themselves for the quest of conserving natural resources of our country; and for my own youth. Wish all of you good health and always keep in your heart the love for our Mother Nature.

This short story is part of "White Soiree is not for Spoiled Doll," published by Labor Publishing House.





Tiếng đại ngàn
 Truyện ngắn của Tuệ An


Con gấu con mất mẹ rên thảm thiết. Đói quá rồi nó cũng chịu nhay lấy núm sữa mà cha San đã cầm dúi hẳn cả đầu bình vào miệng. Hơn tháng sau, lớn hơn một tí, nó mới biết liếm sữa trong chậu, biết ăn thêm những thứ thức ăn khác, như kiến, mối, giun, cả nước cơm cũng ăn. Nhưng vẫn còn nhớ vú mẹ, gấu con nhét bàn chân to đùng vụng về vào miệng mút lấy mút để. Tộp tộp. 
Nó về với cha San vào một mùa hạn nắng nóng gay gắt. Nắng như thiêu cháy thịt cháy da. Nắng đến nỗi hạt trên nương không chịu nổi, hạt dưới rẫy không chịu nổi. Người đói quá phải chạy vào rừng kiếm thứ để ăn. Nắng hạn cũng chạy vào rừng. Rừng cháy. Nhưng gấu mẹ chết không vì đám cháy mà vì một vết đạn bắn đúng tim. Gấu mẹ rú lên, vang mãi sang tận vách đá bên kia, vọng về vách đá bên này. Nghe đến là nhức lòng. Ừ mà không nhức lòng sao được. Gấu con bám vú mẹ, nhay mãi thôi, nhay cho đến khi giọt sữa ngọt hết rồi, giọt sữa mặn chảy ra, thế mà gấu mẹ vẫn không tỉnh dậy. Người thợ săn cúi xuống, đẩy hất gấu bé ra, dường như chẳng đoái hoài gì. Ông rạch dứt khoát vào bụng gấu mẹ, gạt nhẹ cánh lá gan, đưa tay móc lấy cắt nguyên cái mật, kéo dây cuống mật thắt lại cho nước mật đắng khỏi chảy ra. Xong đoạn, ông vội vã quay trở về gọi mấy người trai bản ra khiêng xác gấu. Cha San đi theo đám trai bản. Nghe tiếng sột soạt, ông quay theo hướng động, khựng sững lại. Bắt gặp ánh mắt gấu con nhìn lên. Ngơ ngác và sợ hãi. Chao ôi là tội. Nước mắt ông đùng đục lặng chảy trên gương mặt chằng chịt những vết sẹo cằn cỗi. Lạy Chúa tôi. Cha San làm dấu Thánh. Bởi bỗng dưng ông nghĩ đến San, con nuôi của ông.
Cha mẹ San chết vì bệnh dịch, cũng vào một mùa nắng hạn thế này. Dân bản định chôn San theo. Thầy mo bảo rằng đứa bé này là tà ma, cha mẹ nó chẳng tha, nó còn ếm bệnh làm bản làng bao nhiêu người không lên nương, lên rẫy được. Ơn Giàng là một nhóm bác sĩ kịp đến cứu bệnh cả làng. Tài thật. Chỉ có mấy viên thuốc nhỏ xíu, người bệnh uống vào lại khỏe mạnh, lại lên nương, lên rẫy. Để trả ơn, già làng đã hứa, bản làng phá lệ, không nghe lời thầy mo lần này. Tha cho San được sống. Cha San đem em về. Dạy San hát, dạy San nói, dạy San biết nhớ rừng.
Lại một mùa nắng hạn nữa, San giờ lớn lắm rồi, cao đến gần vai cha. Cha San lại theo đoàn bác sĩ tình nguyện về bản chữa bệnh. Lần này trở về, ông cũng đem theo một em bé như đã từng đem San về. Nhưng không phải là người, là gấu. Cha con San đặt tên gấu bé là Nắng.
Ở rừng Việt Nam có hai thứ gấu quý hiếm, là gấu ngựa và gấu chó. Phân biệt dễ lắm, cứ nhìn vệt lông sáng màu trên ngực gấu là biết thôi. Vệt màu trắng hoặc lem kem vát lên như chữ V, là gấu ngựa. Còn vệt vàng cong như chữ U tựa con đò cong cong thật là cong, là gấu chó. Gấu chó nhỏ, lông ngắn và mượt hơn. Xét về tập tính, thì gấu chó hiền lành thông minh hơn, còn gấu ngựa hung dữ cộc cằn. Cha San còn biết phân biệt bằng mùi nữa. Cha bảo mùi gấu ngựa khẳn khẳn, khó nghe. Hầu hết các loài động vật đều phân biệt bằng mùi. Chả trách từ dạo nhà có nuôi Nắng đến giờ, cha con San có thêm mùi gấu nên mấy chú chó nhà bác Nhi không dám sủa nhắng lên như trước mỗi khi cha con em sang chơi nữa. Bé Nắng của San là gấu chó, sắp chừng một tuổi, vẫn chưa bỏ được cái tật bú chân trước. Tộp tộp.
Bé Nắng lớn lên với người. Quấn quýt với người. Hết một mùa hạn, hết một mùa mưa. Nắng thua San đến những mười hai tuổi nhưng cơ thể của Nắng có khi còn mập hơn San. Cha San bắt đầu lo ngại, dù ngoan và yêu San đến mấy đi nữa thì nó vẫn là một loài thú hoang dã, bản năng đại ngàn của nó biết đâu sẽ trỗi dậy vào một lúc bất chợt nào đó. Cha kêu thợ làm cái chuồng sắt lớn, nhốt bé Nắng vào, khóa trái lại. Nắng kêu rống lên. Cha nghiêm khắc không mở. Nắng đập rầm rầm, những gióng sắt run lên, nhưng vững chắc không bung. San cũng buồn, không muốn cha nhốt nó thế kia, nhưng cha nói đúng quá, San đành phải nghe thôi. Tội nghiệp Nắng. Thằng nhỏ nằm bẹp xuống nền chuồng, nước dãi chảy nhễu nhại, chân trước to bè nhét nguyên cả bàn vào miệng. Ư ư. Tộp Tộp.
Cô Nhiên em gái bác Nhi ghé nhà chơi. Cô là bạn học cũ từ thuở bé của cha San. Cô ở miết bên Mỹ mấy năm rồi, nghe đâu năm này về Việt Nam làm việc hẳn.
         -         Mèn đét ơi. Cha con anh dữ nghen. Nuôi gấu lấy mật hử? – Cô Nhiên hét lớn lên khi ra phía sau nhà thấy cái chuồng sắt. Gấu Nắng cũng dần tập quen chấp nhận việc bị nhốt.
Nắng rõ là khôn, khịt khịt mũi đưa mắt ngó lên cô Nhiên rồi lại cụp ệp xuống. Kiểu như thằng nhỏ mà nói được tiếng người thì nó sẽ hét lên phản đối:
       -     “Biết gì đâu mà nói chớt quớt vậy cà!”
Cha San hiểu ý liền. Cười với cô Nhiên:
       -    Đâu. Nuôi chơi.
       -    Xạo. – Cô Nhiên chun mũi.
       -  Tui nói thiệt mà. Mắc công chi xạo vậy trời. – Cha San nhún vai ra ý không thèm chấp.
Cô Nhiên đi vòng vòng nhìn Nắng. Cái mặt nó ỉu xìu. Cô Nhiên dừng lại. Nhìn chăm chú. Rồi như nhớ ra điều gì, đứng lại.
      -    Anh coi nuôi vậy mà đã xin giấy phép chưa?
      -   Giấy phép gì? – Cha San thắc mắc.
      -  Thì giấy phép nuôi gấu lấy mật đó.
      -   Tui đã nói cô rồi. Tui nuôi chơi thiệt mà.
Cha San không biết nói sao hết nữa. Vừa lúc San  đi học về. Reo lên. Cô Nhiên. Cô Nhiên. San quay qua chào cha. Rồi thoắt cái chạy lân lại gần chuồng Nắng. Gấu Nắng đứng ngay liền dậy, cái mông ục ịch nhấc qua, một chân trước bám vào song sắt, một chân vẫn nhét cả vào miệng. Tộp tộp. Brừ brừ. Hai đứa đều mừng rỡ.
     -  Đấy. Cô thấy chưa? Tui nuôi cho nó làm bạn với con tui. – Cha San nhìn cô Nhiên mà nói, ra vẻ đắc thắng.
Cô Nhiên gõ gõ vào trán. Cái kiểu gõ trán này, San đôi khi ra vẻ lấy le trí thức với bạn bè cũng vờ làm vậy.
    -   Anh nuôi kiểu tự phát trong nhà vậy là sai rồi. Nó là động vật hoang dã mà. Nhà của nó là rừng. – Cô Nhiên chùng giọng xuống nói với cha San.
Cha San im lặng, không nói gì.
Cô Nhiên ngồi nhìn San chơi với Nắng. Đứa ở trong, đứa ở ngoài, song sắt cứng ngăn đã đành rồi lại thêm tấm lưới màng chắn, cản sự tiếp xúc để bảo đảm an toàn nhưng không cản được tình thân hai đứa dành cho nhau. Dễ thương đến lạ. Cô đưa tay chạm nhẹ nhẹ vào thanh chuồng làm quen. Cô cũng bắt chước San và Nắng, cọ mũi vào tấm lưới. Gấu Nắng không ngừng bú chân. Tộp tộp.
     -   San nè, cô bắt San phải ở trên giường cả ngày, không được chạy chơi đâu cả. San có chịu không? – Tự dưng cô Nhiên ngước đầu lên hỏi.
     -  Ứ chịu đâu cô Nhiên. Trò gì kỳ cục quá à. – San giãy nảy.
     -   Cha con San bắt gấu Nắng nằm trong chuồng miết đó thôi. – Cô Nhiên nhấm nhẳn.
San im lặng, không nói gì.
Mãi khi cô Nhiên về rồi. San cũng chẳng biết nói sao. Tự dưng buồn hiu ơi là buồn hiu. Cha cũng vậy, dường như cha đang nghĩ lung lắm. Buổi chiều, cha San bắc ghế ngồi nơi hiên đọc sách. San len lén ra, men lại ngồi bệt bên, ôm đầu gối cha. Đoạn thủ thỉ.
     -    Cha nè, mình cho Nắng chạy chơi nghen cha.
     -   Con giỡn à. Nhỡ nó ăn thịt người đó. Nó lớn rồi. – Cha San giật mình đáp vội.
     -    Nắng không ăn thịt người đâu cha. – San nằn nì.
     -    Kể cả nếu như Nắng không ăn thịt người thì nó vẫn rất nguy hiểm con ạ. Chân nó thế kia mà vồ tát thì mất mạng không chừng. – Cha nhấn từng chữ cuối, ra chừng sợ hãi.
     -   Nắng chưa bao giờ làm thế mà cha. Nắng là con vật ngoan nhất, ngoan hơn nhiều người mà. – San đã đứng dậy, chân bấm bấm xuống nền, nước mắt xem xém chực trào.
     -   Bản năng, bản năng con ạ. Nó là thú dữ của đại ngàn. Nó không phải là người. Ở con vật, bản năng là một thứ còn mạnh mẽ hơn bất cứ tập tính nào mình chỉ dạy cho nó. Có thể giờ đây bản năng nó đang ẩn kín. Nhưng có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào mình không biết trước được. Lúc đó có thể nó cư xử với mình theo kiểu mạnh sống, yếu chết như luật rừng giữa những con thú với nhau. – Cha San ôm chặt lấy San dỗ dành, giảng giải.
     -   Không. Nắng không như thế đâu cha. – San khóc òa lên, nức nở. Nắng trước giờ đâu có biết hại ai đâu. Chỉ có con người, con người giết chết mẹ nó, và nhốt nó trong cái chuồng bé cỏn con. San muốn nói thế, San muốn nói nhiều lắm. Nhưng San không nói được gì nữa, nước mắt cứ thế chảy trào, không biết cách nào cho ngưng nổi.
Cha San không biết nói sao nữa, ông để San ngồi đó, đi vào nhà. San ngồi ngoài hiên khóc mãi. Đến khi mắt sưng lên, nước mắt hết chảy nổi thì thôi. San cứ thế sụt sịt và nấc lên nấc xuống. Rồi San đi ra phía sau, ngồi dựa vào cái cột bếp, nhìn ra chuồng Nắng. San ngủ quên mất tiêu từ lúc nào. San nghe thấy tiếng rừng gọi. U u. U u. Như là lá, như là gió. Mũi San nghe mùi đại ngàn, ngai ngái lá mục, ngọt ngào hương hoa và nhân nhẩn đắng của giọt nhựa ứa ra đầu ngọn.
Nóng quá. Rừng hạn rồi đây mà. Cũng như cái ngày rừng sinh San ra. Không. Nóng hơn. Cháy. Cháy. Cha ơi, cứu con. San gào lên tức tưởi. Bật dậy. Mồ hôi vã ra.
Cha San ôm chặt lấy San. Mặt tái dại đi vì lo lắng. 
      -   Bé San tỉnh dậy rồi. Mèn ơi, đừng làm cô sợ nghen con. Chi mà sốt lên ba chín phết năm độ vậy nè? - Cô Nhiên cũng đang ở bên San. Cô khẽ reo. Mừng rỡ.
      -   Cha ơi cha, cho Nắng chạy chơi đi nghe cha. – San nói vậy rồi nói những gì, những gì nữa, nửa mơ nửa tỉnh rồi lại ngủ quên đi lúc nào không biết.
Sáng. San đã dậy được hẳn. Cơn sốt hôm qua làm San cảm giác nhức nhừ, người vẫn hâm hấp nóng hơn bình thường.
Cha San bên cạnh, dỗ đút cho San ăn từng muỗng cháo. Cha bảo San:
      -   Lúc nào con khỏe, mình đem Nắng về thả lại rừng.
      -   Vậy ai chơi với con? – San buột miệng hỏi liền không chút suy nghĩ, dù San rất muốn Nắng được thả ra khỏi cái chuồng.
      -   Con có nhiều bạn ở trường con mà. Nhà của Nắng là ở rừng, ở đó có những bạn gấu giống nó, gọi là đồng loại. Nó phải cùng sống tự do với đồng loại ở rừng thì nó mới có một đời gấu đúng nghĩa con ạ. 
San cố ăn hết chén cháo, chu môi ngụm nước nuốt vội những viên thuốc đắng mà cha đưa cho. Ngoài hiên, tiếng chim hót tiu rich, tiu rich, chẳng đoán được là chim gì. San nhìn ra. Những cánh hoa vàng chanh nhẹ bẫng rơi bay rải rắc vào tận trong nhà. Thương chi lạ.
Cũng may mà vừa đúng dịp San nghỉ mùa hè. Cha cho San theo, mượn thêm hai người bạn của ông nữa, cùng đem Nắng về rừng. Phòng xa, ông còn đem thêm cây súng bắn gây mê. Cha San đã lên bản nhiều lần để chữa bệnh cứu người, ông được dân bản thương như người của bản. Già bản cứ dặn dù bản làng có nghèo đói đến đâu, cái chân cha San lên cũng có nhà sàn để ở, cái mền để đắp, hột gạo để ăn. Cái bụng người đồng bào thẳng ngay không biết nói dối.
Về đến bản. Cha và các bác hè nhau chung sức khiêng cả chuồng lẫn Nắng xuống. San đứng nhìn. Nắng nhìn lại. Nắng ngoan. Rên ư ư. Bàn chân ngập miết trong miệng. Ư ư. Tộp tộp. Chắc thằng nhỏ cũng đoán chừng nó sắp bị đem bỏ đi, chắc là nó phạm phải cái lỗi gì đó lớn lắm. Ừ, lớn lắm, nên cha con San không thương cho nó ở cùng nữa. 
        -   Nắng. Rừng của mày đây rồi… Ra đi con. Ra mà về với rừng. – Cha San mở cửa chuồng. Bác Nhi tay xăm xắm cầm khẩu súng gây mê để bắn khi cần. Gấu Nắng men mén bò ra, ngơ ngác lén nhìn lên San rồi lại nhìn sang cha. Ánh mắt ngơ ngác và sợ hãi không hiểu điều gì sẽ xảy ra. Đến tội. Y chang cái lần đầu tiên cha San gặp nó.
Nắng ra cách chuồng được chừng một mét. Nằm nhoài xuống. Ra chiều ngẫm ngợi. Rồi đứng dậy, ục ịch đi về phía… San.
Cha đưa tay xua Nắng.
       -   Đi đi con. Về với rừng đi con.
Nắng cúi mặt lầm lũi giả tảng như không nghe thấy. Bàn chân to bè lại nhét vào miệng. Tộp tộp.
Vài tiếng sau. Cha và các bác hội ý. Tiêm cho Nắng một liều thuốc mê. Rồi cứ thế mà mang Nắng vào sâu trong rừng, chừng đến lúc Nắng tỉnh thuốc thì mọi người đã đi về bản rồi. Dám chắc là nó chịu quen thôi, rừng là nhà của nó mà.
Nào ngờ, hai ngày sau, San đang ngủ thì nghe tiếng sột soạt. Chó các nhà đánh động nhau sủa ran một chốc rồi sợ hãi nín thít. San nghe tiếng ư ư. Tộp tộp. Nghe mùi nồng nồng hăng ngọt rất quen. Mùi lông thú khô khẳn, mùi đất nung âm ấm, mùi cơm nếp đến độ, mùi củ khoai củ mì cháy hơi khê lẫn lộn vào nhau. Cái mùi không lẫn vào đâu được. Nắng. Và cái mũi ướt át của nó mừng rỡ hít ngửi liếm láp lên mặt San. San thương lắm, San không sợ chút nào dù rằng nếu cha mà thấy cảnh này chắc là sẽ sợ thót tim mà bắn cho Nắng thêm một liều thuốc mê mất.
San dậy khỏi giường. Vừa dỗ vừa ép kéo Nắng ra khỏi nhà. Bàn chân con vật bám sườn sượt vào sàn gỗ. Ánh mắt ướt như nằn nì xin ở lại. San thua. Sức em không kéo nổi.
Cha San lặng lẽ đứng nhìn từ lúc nào. Nắng ư ư. Đem chân nhét vào miệng. Tộp tộp. San ngước nhìn lên.
          -   Cha…
Cha San không nói gì. Ông lấy xích sắt vòng qua chân Nắng, khóa lại vào cột dưới nhà để Nắng không leo lên được. Nắng ư ư, mắt ươn ướt hờn dỗi nhưng không dám phản kháng. Nó chỉ cần được ở đây thôi, ở gần bên San.
Cha điện thoại cho cô Nhiên. Cha bảo rằng ngày mai cô sẽ lên đây, cùng với một “người bạn đặc biệt”. Tạm thời thì cứ cho Nắng ở lại phía dưới sàn nhà như thế đã, nhưng phải cẩn trọng.
Sáng. San dậy sớm khi sương còn bảng lảng khắp vườn. Em ngồi bậc thang trên cùng, nhìn xuống. Nền đất khá thấp. Nắng nghe mùi San nhìn lên. Nếu không bị xích chân lại bên dưới thì nó đã leo lên mà miết cái mũi ướt của nó vào San ngay tắp lự rồi. Gấu Nắng đập một chân trước vào cây cột. Rên rỉ. Nước dãi thằng nhỏ chảy ướt mèm, bàn chân trước còn lại nhét vào miệng mà bú. Tộp tộp, nghe đến là thương.
Đến khi mặt trời qua gần nửa bên kia núi, cô Nhiên và “người bạn đặc biệt” mới tới. Đó là một cụ bà trạc chừng bảy mươi tuổi. Mắt bà chứa cả bầu trời xanh thẳm hiền dịu. Mái tóc bà bạc cước. San chưa thấy người ngoại quốc bao giờ nên cứ trố mắt lên nhìn bà. Bà cùng cô Nhiên bước tới. Trước khi bước lên nhà sàn, họ phải đi qua chỗ bé Nắng đang ở đó. Bà cụ như bà tiên trong cổ tích, cúi xuống, cọ mũi với Nắng và đưa tay gãi nhẹ bờm lông của nó. Nắng kêu nho nhỏ những tiếng “brừ, brừ” ra chiều thích thú. Bà bước lên từng bậc gỗ, đến sàn nhà. San vẫn ngồi nhìn, em ngạc nhiên quá nên không biết phải chào hỏi ra sao. Cô Nhiên giới thiệu San và bà Jane. Bà Jane cúi xuống hôn lên má em. Tựa như thân quen tự thuở nào.
Cô Nhiên nói chuyện với bà. Cô kể những gì những gì, San không hiểu. Bà Jane gật gật đầu. Bà lại hôn phớt lên má San lần nữa rồi bước xuống dưới chỗ Nắng. Lúc nãy bà nói bằng thứ ngôn ngữ của bà với San. Vậy mà San tin là mình hiểu. San còn đoán rằng bà biết nói tiếng muôn loài. Giờ đây bà ngồi với Nắng thật lâu. Chẳng biết trò chuyện điều gì. Mà lạ. Trước giờ Nắng chưa bao giờ chịu bỏ cái tật bú bàn chân trước. Tộp tộp. Bà Jane đưa tay nắm lấy bàn chân trước của Nắng. Cọ cọ cánh mũi mình vào mũi nó kêu nho nhỏ “brừ brừ” rồi cười khúc khích. Tựa hồ như đang chế giễu một cách âu yếm. Gấu Nắng tròn xoe mắt nhìn. Ngượng ngại. Từ lần đó nó gần như là bỏ hẳn cái thói bú chân này. Lúc nào thèm lắm, nó nhìn lấm lét xung quanh, xem rõ hẳn là không có ai, vội đưa chân lên miệng, tộp tộp, rồi lại bỏ xuống ngay lập tức.
Bà Jane nói chuyện với cha San. San ôm cái cột ngồi hóng hớt nghe tiếng được tiếng mất. Thật ra nghe rõ tiếng chưa chắc đã hiểu hết, nhưng nhìn ánh mắt, cử chỉ của bà Jane, San cũng lờ mờ đoán được nội dung câu chuyện.
Cha San đưa cho bà cây súng bắn gây mê. Bà Jane lắc đầu, cười.
Trời bắt đầu xám sẫm, bà Jane đã sửa soạn hành trang để vào rừng. Thường thì cứ khi đêm xuống, là lúc gấu Nắng linh động nhất. Còn nhớ cái hồi ở nhà, mới bị nhốt trong chuồng, ban ngày nó nằm ườn ra uể oải còn khi đêm tối, cha con San ngủ thì nó đập bộp bộp vào cái lồng rồi kêu ư ư như bắt dỗi.
Từ cửa rừng, đi sâu vào chừng trăm mét, bà Jane chu môi, đưa tay chụm lại để vang hơn và kêu lên một tràng âm lanh lảnh. San nghe tiếng kêu đáp lại, rồi sột soạt, chao chuyền trên những cành cây nào không biết, ba con vượn bạc má đu tới. Một con tay nắm chặt cành cây, tay còn lại đưa xuống giật phắt cái kính gài trên tóc bà Jane. Bà nhìn lên cười, khục khẹc gì đó với ngôn ngữ của nó. Con vượn trả chiếc kính lại cho bà và vạch lối dẫn đường cho đoàn người – bà Jane, cô Nhiên, cha con San và hai người bạn của cha, cùng nhân vật quan trọng nhất, mắt cum cúp buồn rầu quyến luyến nhưng chân vẫn phải bước theo đoàn – Gấu Nắng. San không hiểu bà Jane đã nói với những con vật ấy những gì, sao mà chúng nghe lời bà đến vậy, sự nghe lời không phải do sợ hãi, mà dường như bởi chúng không muốn làm cho người bà phúc hậu này buồn lòng.
Đi chừng hai cây số nữa thì con vượn bạc má dẫn mọi người đến một trảng đất rộng gần lạch suối. Bà Jane hết ngửa mặt lên rồi cúi xuống săm xoi như muốn lật cả đất lên. Cánh mũi bà không ngừng phập phồng, có lúc hít vào thở ra khìn khịt như đang đánh hơi. Bà reo lên. Tìm ra rồi. Dấu chân của những con gấu chó. Ước đoán là một gấu mẹ và hai gấu con, gấu con cũng chừng chừng cỡ tuổi với bé Nắng.
Lần theo dấu chân, đi một quãng, mọi người cũng gặp được mẹ con nhà gấu. Gấu mẹ gừ lên dữ tợn, lấy thế hằm hè như ý định xông vào tát người. Bé Nắng cum cúp ra ý sợ hãi. Mãi sau này nhớ lại cái cảnh đó, San mới thấy buồn cười, Nắng cũng là gấu chó mà, nhưng nó lại coi San, cha San là đồng loại chứ không biết rằng những con thú lông đen sẫm có viền vàng hình móng ngựa trước ngực đang sắp sửa đối đầu kia mới thực sự là đồng loại của nó. Cô Nhiên có bảo với San, vì nó gắn bó với người và bị tách biệt hoàn toàn với đời sống ở rừng nên chưa kịp thích nghi. Đáng ra trước khi đem từ nhà thả ra rừng thì nó phải được trải qua một giai đoạn sống bán hoang dã, tức là trong môi trường nửa tự nhiên dưới sự giám sát chăm sóc của con người. Nhưng trường hợp bé Nắng, bà Jane đã táo bạo chọn một cách khác thông thường.
Con gấu mẹ gừ lên lần nữa. Ánh mắt hăm dọa. Cha San đưa súng gây mê lên, định bắn. Bà Jane phẩy nhẹ tay, ra hiệu ý với cha San. Đừng bắn. Bà Jane quỳ gối ngồi xuống. Hai tay bà dang ra như chờ đón điều gì đó. Môi bà khẽ mấp máy, những tiếng “brừ brừ” nho nhỏ, càng lúc càng rõ dần, lên lên xuống xuống theo một điệu thức nào đó. Con gấu mẹ dịu xuống. Ánh mắt quay nhìn hai đứa con nhỏ, rồi lại ngước lên nhìn bà Jane. Giữa trảng rừng với những con người đứng xung quanh, hai gấu con rúc vào bú mẹ. Thốt nhiên, gấu Nắng tội nghiệp mơ hồ thèm lắm một điều gì không rõ. Tộp tộp. Nó lại bắt đầu đưa cả bàn chân trước lên bú. Bà Jane vẫn ngân nga cái giai điệu “brừ brừ” bí ẩn của bà như trò chuyện với đại ngàn. Nắng bước lên trước, cũng len sà vào gấu mẹ, đưa một bàn chân chạm như đùa giỡn. Gấu mẹ khẽ gầm gừ. Tiếng rừng xào xạc. Môi bà Jane giần giật nhẹ, hai cánh hoa thẫm màu run lên bật ra âm “brừ brừ”. Hai con gấu con thôi bú, nhường chỗ cho đứa em lạc bầy không biết từ đâu mới đến. Gấu Nắng sung sướng sà vào. Tộp tộp. Con gấu mẹ chẳng có chút phản ứng chối từ.
Đoàn người lặng lẽ trở về. Ánh mắt nụ cười như mãn nguyện. Tạm biệt nhé, Nắng. Rồi gấu mẹ sẽ dạy cho ba đứa con của nó, có Nắng, những bài học của rừng.
Lại tiếp thêm một buổi sáng bãng lãng ẩm ướt đến lạ lùng của mùa hè. Đến lúc cha San và các bác phải trở về để tiếp tục công việc. Lạ. Bà Jane và cô Nhiên ở lại với bản.
            -        Cha ơi, sao bà Jane và cô Nhiên không về cùng mình? – San ra ý thắc mắc.
            -       Bà Jane và cô Nhiên sẽ ở lại để bày dạy mọi người làm nghề thủ công, trồng cây tăng gia, làm chuồng nuôi heo lấy thịt cho người đồng bào đỡ cực. – Cha San không dừng tay sửa soạn đồ, đáp lại. –  Chỉ khi người đồng bào thoát đói, thoát nghèo được thì họ mới không hại chết muôn loài khác trong rừng, con ạ.
           -     Cha ơi, bao giờ bà Jane và cô Nhiên về với mình?
           -      Họ là những nhà bảo tồn mà con. Họ ở lại đây. Khi nào cánh rừng này lành lặn, họ lại đi tới những cánh rừng đang bị tổn thương khác.
           -    Nhà bảo tồn là gì ạ? – San ngơ ngác hỏi.
           -      À… - Cha dừng hẳn tay lại, suy ngẫm đoạn thủng thẳng giải thích. – Họ cũng là bác sĩ như cha vậy đó. Nhưng bệnh nhân của họ là rừng, là biển, là trời, là cả trái đất này, con ạ.
           -    Cha ơi… Làm sao để trở thành nhà bảo tồn?
Cha San im lặng. Chưa biết trả lời ra sao cho San hiểu. Cách quãng, bà Jane đang đứng cầm những ngọn lạt đan thành chiếc giỏ xách cho những người đồng bào nhìn mà tập theo. Bỗng đâu nghe tiếng hú vọng, bà Jane hướng theo tiếng động, chú tâm nghe ngóng, mắt dõi về cửa rừng. Đoạn bà chu môi lại, vang lên những tràng âm dài lanh lảnh đáp lời chào hỏi của một loài vượn voọc nào đó.
          -     Cha ơi… Con biết rồi. – Ánh mắt San sáng lên.
          -       Sao con? – Cha San nhíu mày.
          -       Cha nhắm mắt lại nghe… – San vừa nói vừa đưa hai bàn tay bé lên che lấy mắt cha. 
          -     Brừ brừ. Tộp tộp. Brừ brừ. – San bè môi ra, bập bập môi lại bắt chước tiếng Gấu Nắng.
          -     Brừ brừ. Brừ brừ. – Bà Jane quay qua mỉm cười và đáp lại tiếng San. 
Cha San vẫn chẳng hiểu gì. Ông chỉ nghe mùi đất rừng rất đậm trên bàn tay con mình và những tiếng brừ brừ vô nghĩa. Gió xào xạc. Lá xào xạc. Đại ngàn đáp lại những âm brừ brừ ngân nga hát về câu chuyện một chú gấu nhỏ đang mải mê nô đùa cùng bạn bè nơi trảng rừng ngập nắng và hương gỗ mật…

 Hình ảnh minh họa từ trang ZooBorns

18-04-2013

Thì thôi thương nhớ



Truyện đã đăng báo Phụ Nữ Việt Nam cuối tuần số 15/13 ngày 11/04/2013

Thì thôi thương nhớ
Tuệ An
-                     Anh bảo này. – Người đàn ông đã quá năm mươi, đầu hơi hói, mí mắt nhão chảy, ra vẻ chiêm nghiệm. – Phụ nữ ấy, muốn không khổ thì đừng để mình lụy gì cả. Tiền bạc, tình cảm, công danh sự nghiệp,… nói chung là đừng lụy gì cả. Anh thấy nên vậy đó.
-                     Vâng. Em biết. – Cô cười nhàn nhạt. Ánh mắt thản nhiên nhìn hoài mấy cục đá lanh canh trong ly cà phê. Còn đầu thì nghĩ rất lung về những cái lụy khác ngoài tiền. Trước cứ nghĩ, một người phụ nữ độc lập là không phụ thuộc kinh tế vào một ai cả. Giờ mới biết, hóa ra những gì cô hãnh diện về mình bấy lâu chỉ là hão. Không lụy tiền, nhưng cô còn lụy nhiều thứ quá, mà những thứ đó nó lại còn làm khổ mình hơn là lụy tiền.  
Ba mươi mùa con nước, ba mươi mùa nông nổi, giờ nghe anh nói, cô mới giật mình hiểu được căn nguyên cái khổ ở mình.
Một tối rỗi rãi cà phê, anh hỏi:
-                     Em lập gia đình chưa?
-                     Em chưa. – Cô nhỏ nhẹ đáp.
-                     Sao cái truyện em viết trên báo T. về gia đình và ly hôn lại thật vậy. Vậy những cái đó chắc là chuyện thật còn em được nghe kể hả?
-                     À… cũng không hẳn. Em có hư cấu, nhưng cũng là một phần câu chuyện của em. Có điều, tình cảm của em chỉ là tình yêu và chia tay thôi.
-                     Từ lúc nào?
-                     Cách đây hơn ba năm ạ. Từ lúc ấy đến giờ em vẫn chưa tới được với người khác.
-                     Cái dại của đàn bà là thế đấy. – Anh chặc lưỡi, rồi một chốc anh chậm rãi anh nói tiếp. – Anh kể cho em nghe chuyện này, nhưng giữa anh em mình với nhau thôi. Không được kể lại cho ai nghe. 
Cô gật đầu, thầm toan tính, nếu như đó là một câu chuyện hay, thì biết đâu đấy, cô là người viết văn mà, anh hay bất cứ ai cũng đều có thể trở thành nhân vật. Có điều nếu câu chuyện đụng chạm đời sống riêng tư quá thì đành phải hư cấu lên hoặc thay tên đổi địa điểm chút đỉnh thôi.
Gương mặt cô ngoan quá, lại điểm trang thêm chút nhan sắc và vẻ thông thái ý nhị rất đàn bà nữa, đàn ông đến và ngồi trước mặt cô, hiển nhiên là để tự nguyện đem đến cho cô một điều gì đó, một câu chuyện chẳng hạn.
Anh ề à giảng giải tiếp. “Ừ. Anh nói em đừng lụy tình cảm là sao? Anh cũng không hiểu trong đầu đàn bà nghĩ gì nữa. Nhưng vì câu chuyện của em, vì em…” Cô gật đầu, ánh mắt ra vẻ cảm kích, se sẽ nghĩ “Ôi giời! Điệp khúc muôn thuở của những gã đàn ông!”  Nhưng kệ đi, cứ nghe vậy.
“Có một cô, anh cũng không biết gọi là gì nữa, tất thảy mọi người bên nhà cổ đều nói là anh phá hoại cuộc đời cổ. Mà nói nghe nè, phá gì cơ chứ, anh còn không biết có phải là tình yêu hay không cơ mà, đến cả nắm tay nhau còn chưa bao giờ ấy. Ai biểu cổ thương mình nhiều, chứ mình có gì đâu. Mà khổ tâm nhất là cổ hận anh đến nỗi chẳng yêu đương gì ai nữa, sau này làm bà bé của một ông, còn giờ thì ở không mình ên vậy đó.
Hồi cổ học lớp 12, tánh anh thì hay chào hỏi, giúp người này người kia mấy việc lặt vặt, thế thôi mà cổ cứ nghĩ anh thương cổ. Sau đó gia đình cổ sang Úc, cổ biên thư về, thì anh biên lại, điện thoại về thì anh nghe máy. Anh cả nể thế đấy, với lúc ấy anh cũng rảnh nữa.” 
Gương mặt cô chẳng biểu hiện gì nhiều, thi thoảng vờ vĩnh gật đầu. Ừ, phải chăng tất cả rối ren lừa dối trong đời này cũng do người ta quá rảnh vậy hả?
Anh cười, kể tiếp cô nghe. “Chỉ thế thôi mà cổ cứ nghĩ anh cũng yêu cổ. Rồi cổ bảo sẽ gửi giấy bảo lãnh về để anh sang với cổ. Anh làm gì có ý định đó! Giấy bảo lãnh về đúng vào cái ngày đám cưới anh.” Anh chuyển giọng vui vẻ kể về chuyện tình duyên với bà vợ. “Vợ chồng là do duyên số đó em, vợ chồng anh yêu nhau có một tháng là cưới à.” Rồi anh lại kể tiếp về cô kia. “Sau khi anh có gia đình thì cổ hận anh. Mà anh đã bao giờ nói yêu cổ đâu. Khổ thế. Mà khổ nhất là cổ sau này lại đi làm bé cho một ông, rồi giờ ở không vậy đó. Cũng hơn năm mươi cả rồi.”
Anh im  lặng. Cô im lặng.
Anh nghĩ về cuộc tình của anh và cô ngẫm về cuộc tình của cô. Đúng là đàn bà rất dại.
“ Những khi cổ về Việt Nam, cổ cứ đòi gặp anh. Anh gặp làm gì nữa, con cái có cả rồi, vợ anh mà biết chắc bả cũng không thích. Mà anh nói thiệt nghe, tính anh dễ sa ngã lắm, lỡ gặp rồi biết đâu đấy. Nói chung là né cho lành, với anh thì gia đình quan trọng hơn cả.”
Cô thì khác với cô gái trong câu chuyện đó. Sau khi chia tay, cô không đến với ai mà người yêu cũ của cô cũng chẳng đến với ai. Có lúc, anh quay lại. Tình yêu thì cô vẫn còn dành cho anh nhưng đến với anh thêm một lần nữa thì không thể. Tránh mặt nhau. Mà dằn vặt riêng mình. Cô không muốn mở lòng ra với ai thêm lần nào nữa.
Cô bước lại chỗ dàn nhạc sống trong quán café, khẽ nói thầm với tay đàn chính ít điển trai. Gã đứng dậy nhường lại vị trí cho cô.
Khách trong quán lắng lòng nghe tiếng đàn buông và chất giọng trầm đục là lạ của cô đang rải từng lời…
đi đi em
cho kịp buổi sáng mai
đâu ai cần một người ngồi không mà hoài niệm
mắt lá thâm quầng thao thức
bởi vệt mưa ban sáng nhắc mình
Sài Gòn vẫn còn đó những phố me bay
vẫn còn đó dấu chân người năm cũ
những con tàu Bắc Nam vẫn khứ hồi không mỏi
tiếng rền toa đã làm chán nản tai người
Một vị khách bước lên. Đứng chờ. Cô hơi thoảng sững người. Bản đàn tan. Đêm tan. Vị cà phê vẫn còn đăng đắng đọng lại.
-         Em còn nhớ bài này sao?
-         Ha… - Cô cười vờ vĩnh kiểu xã giao. – Ngẫu nhiên thôi. Trí nhớ tôi khá tốt. 
Bài hát anh đã viết cho riêng cô vào một sáng đi đón mặt trời nơi cửa biển. 
Cô trả lại cây đàn cho ban nhạc. Anh tựa như là một người chưa từng quen, xa rất xa, đi qua và hỏi thăm một điều gì đó. Thật sự cô không mong gặp lại anh ở đây, hay bất cứ ở đâu. Cô nhẫn tâm và dứt khoát (hay cố tỏ vẻ như vậy.) 
-         Chúng ta không bình thường được sao? – Anh nán giữ cô lại.
-         Thôi anh ạ. – Cô cười giễu cợt, nhún vai mỉa mai, rồi sải bước về chỗ ngồi cũ. 
Ngày xưa anh đã ruồng bỏ cô. Cô chính là người níu kéo. Cô chính là người nặng lòng. Và cô chính là người tự làm khổ mình. Sau khi chia tay, không ai có thể cư xử bình thường trở lại nếu đã yêu thương thật lòng. 
Ông anh đi cùng nói đúng, đàn bà dại lắm. Cô cứ tưởng mình giỏi giang, độc lập, tự xây dựng được sự nghiệp. Thế mà xòe bàn tay ra, nắm lại, chỉ thấy toàn những nước mắt do khổ lụy, không lụy tiền nhưng lụy tình. 
Cô nói với ông anh đi cùng, mà cứ như tự nói với lòng mình.
-         Qua là qua anh ạ. Do mình thôi, với lại… có đáng gì… Em chẳng trách ai, cũng chẳng muốn trách mình nữa. Thế đi, cho nhẹ lòng.
-         Ừ. – Người đàn ông bối rối, không hiểu hết nghĩa và nguyên do.
-         Thôi, mình về đi anh.
Cô bước trước ra khuôn viên quán đứng chờ, mũi hít nhẹ cái khí ẩm hơi se hương lan trong góc vườn. Sài Gòn đêm dịu quá, dịu đến nỗi bóc trần cảm xúc của những người đàn bà như cô. Nơi này thiếu gì người đàn bà hãnh tiến về khả năng tự lập của mình, họ không dựa dẫm vào ai cả. Thế mà vẫn chẳng thoát được khỏi cái khổ lụy tình cảm. Biết là muốn sướng thì đừng lụy ai điều gì cả, không phụ thuộc kinh tế, tình cảm, công việc… Không phụ thuộc điều gì cả. Nhưng mà, cô khó lòng ép sợi dây tâm tư của một người đàn bà trong mình biết dứt khoát và vứt bỏ dửng dưng đi qua để không khổ lụy.
Bản nhạc âm ỉ trong lòng nhức buốt kéo tuột cô về những ngày tuổi trẻ đi đón mặt trời. 
Ừ thương. Ừ nhớ. Nhưng… thôi anh ạ.

SG. 22 tháng 2/2013



Bài đăng cũ

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...