With all my love, Tuệ An wrote the short story "Call from the Nature"
for Ms. Jane Goodall, for all my great friends who did and still working
in the field of conservation biology, who have devoted themselves for
the quest of conserving natural resources of our country; and for my own
youth. Wish all of you good health and always keep in your heart the
love for our Mother Nature.
This short story is part of
"White Soiree is not for Spoiled Doll," published by Labor Publishing House.
Tiếng
đại ngàn
Truyện ngắn của Tuệ An
Con gấu con mất mẹ rên
thảm thiết. Đói quá rồi nó cũng chịu nhay lấy núm sữa mà cha San đã cầm dúi hẳn
cả đầu bình vào miệng. Hơn tháng sau, lớn hơn một tí, nó mới biết liếm sữa
trong chậu, biết ăn thêm những thứ thức ăn khác, như kiến, mối, giun, cả nước
cơm cũng ăn. Nhưng vẫn còn nhớ vú mẹ, gấu con nhét bàn chân to đùng vụng về vào
miệng mút lấy mút để. Tộp tộp.
Nó về với cha San vào một
mùa hạn nắng nóng gay gắt. Nắng như thiêu cháy thịt cháy da. Nắng đến nỗi hạt
trên nương không chịu nổi, hạt dưới rẫy không chịu nổi. Người đói quá phải chạy
vào rừng kiếm thứ để ăn. Nắng hạn cũng chạy vào rừng. Rừng cháy. Nhưng gấu mẹ
chết không vì đám cháy mà vì một vết đạn bắn đúng tim. Gấu mẹ rú lên, vang mãi
sang tận vách đá bên kia, vọng về vách đá bên này. Nghe đến là nhức lòng. Ừ mà
không nhức lòng sao được. Gấu con bám vú mẹ, nhay mãi thôi, nhay cho đến khi giọt
sữa ngọt hết rồi, giọt sữa mặn chảy ra, thế mà gấu mẹ vẫn không tỉnh dậy. Người
thợ săn cúi xuống, đẩy hất gấu bé ra, dường như chẳng đoái hoài gì. Ông rạch dứt
khoát vào bụng gấu mẹ, gạt nhẹ cánh lá gan, đưa tay móc lấy cắt nguyên cái mật,
kéo dây cuống mật thắt lại cho nước mật đắng khỏi chảy ra. Xong đoạn, ông vội
vã quay trở về gọi mấy người trai bản ra khiêng xác gấu. Cha San đi theo đám
trai bản. Nghe tiếng sột soạt, ông quay theo hướng động, khựng sững lại. Bắt gặp
ánh mắt gấu con nhìn lên. Ngơ ngác và sợ hãi. Chao ôi là tội. Nước mắt ông đùng
đục lặng chảy trên gương mặt chằng chịt những vết sẹo cằn cỗi. Lạy Chúa tôi.
Cha San làm dấu Thánh. Bởi bỗng dưng ông nghĩ đến San, con nuôi của ông.
Cha mẹ San chết vì bệnh
dịch, cũng vào một mùa nắng hạn thế này. Dân bản định chôn San theo. Thầy mo bảo
rằng đứa bé này là tà ma, cha mẹ nó chẳng tha, nó còn ếm bệnh làm bản làng bao
nhiêu người không lên nương, lên rẫy được. Ơn Giàng là một nhóm bác sĩ kịp đến
cứu bệnh cả làng. Tài thật. Chỉ có mấy viên thuốc nhỏ xíu, người bệnh uống vào
lại khỏe mạnh, lại lên nương, lên rẫy. Để trả ơn, già làng đã hứa, bản làng phá
lệ, không nghe lời thầy mo lần này. Tha cho San được sống. Cha San đem em về. Dạy
San hát, dạy San nói, dạy San biết nhớ rừng.
Lại một mùa nắng hạn nữa,
San giờ lớn lắm rồi, cao đến gần vai cha. Cha San lại theo đoàn bác sĩ tình
nguyện về bản chữa bệnh. Lần này trở về, ông cũng đem theo một em bé như đã từng
đem San về. Nhưng không phải là người, là gấu. Cha con San đặt tên gấu bé là Nắng.
Ở rừng Việt Nam có hai
thứ gấu quý hiếm, là gấu ngựa và gấu chó. Phân biệt dễ lắm, cứ nhìn vệt lông
sáng màu trên ngực gấu là biết thôi. Vệt màu trắng hoặc lem kem vát lên như chữ
V, là gấu ngựa. Còn vệt vàng cong như chữ U tựa con đò cong cong thật là cong,
là gấu chó. Gấu chó nhỏ, lông ngắn và mượt hơn. Xét về tập tính, thì gấu chó hiền
lành thông minh hơn, còn gấu ngựa hung dữ cộc cằn. Cha San còn biết phân biệt bằng
mùi nữa. Cha bảo mùi gấu ngựa khẳn khẳn, khó nghe. Hầu hết các loài động vật đều
phân biệt bằng mùi. Chả trách từ dạo nhà có nuôi Nắng đến giờ, cha con San có
thêm mùi gấu nên mấy chú chó nhà bác Nhi không dám sủa nhắng lên như trước mỗi
khi cha con em sang chơi nữa. Bé Nắng của San là gấu chó, sắp chừng một tuổi, vẫn
chưa bỏ được cái tật bú chân trước. Tộp tộp.
Bé Nắng lớn lên với người.
Quấn quýt với người. Hết một mùa hạn, hết một mùa mưa. Nắng thua San đến những
mười hai tuổi nhưng cơ thể của Nắng có khi còn mập hơn San. Cha San bắt đầu lo
ngại, dù ngoan và yêu San đến mấy đi nữa thì nó vẫn là một loài thú hoang dã, bản
năng đại ngàn của nó biết đâu sẽ trỗi dậy vào một lúc bất chợt nào đó. Cha kêu
thợ làm cái chuồng sắt lớn, nhốt bé Nắng vào, khóa trái lại. Nắng kêu rống lên.
Cha nghiêm khắc không mở. Nắng đập rầm rầm, những gióng sắt run lên, nhưng vững
chắc không bung. San cũng buồn, không muốn cha nhốt nó thế kia, nhưng cha nói
đúng quá, San đành phải nghe thôi. Tội nghiệp Nắng. Thằng nhỏ nằm bẹp xuống nền
chuồng, nước dãi chảy nhễu nhại, chân trước to bè nhét nguyên cả bàn vào miệng.
Ư ư. Tộp Tộp.
Cô Nhiên em gái bác Nhi
ghé nhà chơi. Cô là bạn học cũ từ thuở bé của cha San. Cô ở miết bên Mỹ mấy năm
rồi, nghe đâu năm này về Việt Nam làm việc hẳn.
- Mèn đét ơi. Cha con anh dữ nghen. Nuôi gấu
lấy mật hử? – Cô Nhiên hét lớn lên khi ra phía sau nhà thấy cái chuồng sắt. Gấu
Nắng cũng dần tập quen chấp nhận việc bị nhốt.
Nắng rõ là khôn, khịt
khịt mũi đưa mắt ngó lên cô Nhiên rồi lại cụp ệp xuống. Kiểu như thằng nhỏ mà
nói được tiếng người thì nó sẽ hét lên phản đối:
-
“Biết gì đâu mà nói chớt quớt vậy cà!”
Cha San hiểu ý liền. Cười
với cô Nhiên:
- Đâu. Nuôi chơi.
- Xạo.
– Cô Nhiên chun mũi.
- Tui nói thiệt mà. Mắc công chi xạo vậy
trời. – Cha San nhún vai ra ý không thèm chấp.
Cô Nhiên đi vòng vòng
nhìn Nắng. Cái mặt nó ỉu xìu. Cô Nhiên dừng lại. Nhìn chăm chú. Rồi như nhớ ra
điều gì, đứng lại.
-
Anh coi nuôi vậy mà đã xin giấy phép
chưa?
-
Giấy phép gì? – Cha San thắc mắc.
- Thì giấy phép nuôi gấu lấy mật đó.
- Tui đã nói cô rồi. Tui nuôi chơi thiệt
mà.
Cha San không biết nói
sao hết nữa. Vừa lúc San đi học về. Reo
lên. Cô Nhiên. Cô Nhiên. San quay qua chào cha. Rồi thoắt cái chạy lân lại gần
chuồng Nắng. Gấu Nắng đứng ngay liền dậy, cái mông ục ịch nhấc qua, một chân
trước bám vào song sắt, một chân vẫn nhét cả vào miệng. Tộp tộp. Brừ brừ. Hai đứa
đều mừng rỡ.
- Đấy. Cô thấy chưa? Tui nuôi cho nó làm bạn
với con tui. – Cha San nhìn cô Nhiên mà nói, ra vẻ đắc thắng.
Cô Nhiên gõ gõ vào
trán. Cái kiểu gõ trán này, San đôi khi ra vẻ lấy le trí thức với bạn bè cũng vờ
làm vậy.
-
Anh nuôi kiểu tự phát trong nhà vậy là sai
rồi. Nó là động vật hoang dã mà. Nhà của nó là rừng. – Cô Nhiên chùng giọng xuống
nói với cha San.
Cha San im lặng, không
nói gì.
Cô Nhiên ngồi nhìn San
chơi với Nắng. Đứa ở trong, đứa ở ngoài, song sắt cứng ngăn đã đành rồi lại
thêm tấm lưới màng chắn, cản sự tiếp xúc để bảo đảm an toàn nhưng không cản được
tình thân hai đứa dành cho nhau. Dễ thương đến lạ. Cô đưa tay chạm nhẹ nhẹ vào
thanh chuồng làm quen. Cô cũng bắt chước San và Nắng, cọ mũi vào tấm lưới. Gấu
Nắng không ngừng bú chân. Tộp tộp.
-
San nè, cô bắt San phải ở trên giường cả
ngày, không được chạy chơi đâu cả. San có chịu không? – Tự dưng cô Nhiên ngước
đầu lên hỏi.
- Ứ chịu đâu cô Nhiên. Trò gì kỳ cục quá
à. – San giãy nảy.
- Cha con San bắt gấu Nắng nằm trong chuồng
miết đó thôi. – Cô Nhiên nhấm nhẳn.
San im lặng, không nói
gì.
Mãi khi cô Nhiên về rồi.
San cũng chẳng biết nói sao. Tự dưng buồn hiu ơi là buồn hiu. Cha cũng vậy, dường
như cha đang nghĩ lung lắm. Buổi chiều, cha San bắc ghế ngồi nơi hiên đọc sách.
San len lén ra, men lại ngồi bệt bên, ôm đầu gối cha. Đoạn thủ thỉ.
- Cha nè, mình cho Nắng chạy chơi nghen
cha.
- Con giỡn à. Nhỡ nó ăn thịt người đó. Nó
lớn rồi. – Cha San giật mình đáp vội.
- Nắng không ăn thịt người đâu cha. – San
nằn nì.
- Kể cả nếu như Nắng không ăn thịt người
thì nó vẫn rất nguy hiểm con ạ. Chân nó thế kia mà vồ tát thì mất mạng không chừng.
– Cha nhấn từng chữ cuối, ra chừng sợ hãi.
- Nắng chưa bao giờ làm thế mà cha. Nắng
là con vật ngoan nhất, ngoan hơn nhiều người mà. – San đã đứng dậy, chân bấm bấm
xuống nền, nước mắt xem xém chực trào.
-
Bản năng, bản năng con ạ. Nó là thú dữ của
đại ngàn. Nó không phải là người. Ở con vật, bản năng là một thứ còn mạnh mẽ
hơn bất cứ tập tính nào mình chỉ dạy cho nó. Có thể giờ đây bản năng nó đang ẩn
kín. Nhưng có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào mình không biết trước được. Lúc đó có
thể nó cư xử với mình theo kiểu mạnh sống, yếu chết như luật rừng giữa những
con thú với nhau. – Cha San ôm chặt lấy San dỗ dành, giảng giải.
-
Không. Nắng không như thế đâu cha. – San
khóc òa lên, nức nở. Nắng trước giờ đâu có biết hại ai đâu. Chỉ có con người,
con người giết chết mẹ nó, và nhốt nó trong cái chuồng bé cỏn con. San muốn nói
thế, San muốn nói nhiều lắm. Nhưng San không nói được gì nữa, nước mắt cứ thế
chảy trào, không biết cách nào cho ngưng nổi.
Cha San không biết nói
sao nữa, ông để San ngồi đó, đi vào nhà. San ngồi ngoài hiên khóc mãi. Đến khi
mắt sưng lên, nước mắt hết chảy nổi thì thôi. San cứ thế sụt sịt và nấc lên nấc
xuống. Rồi San đi ra phía sau, ngồi dựa vào cái cột bếp, nhìn ra chuồng Nắng.
San ngủ quên mất tiêu từ lúc nào. San nghe thấy tiếng rừng gọi. U u. U u. Như
là lá, như là gió. Mũi San nghe mùi đại ngàn, ngai ngái lá mục, ngọt ngào hương
hoa và nhân nhẩn đắng của giọt nhựa ứa ra đầu ngọn.
Nóng quá. Rừng hạn rồi
đây mà. Cũng như cái ngày rừng sinh San ra. Không. Nóng hơn. Cháy. Cháy. Cha
ơi, cứu con. San gào lên tức tưởi. Bật dậy. Mồ hôi vã ra.
Cha San ôm chặt lấy
San. Mặt tái dại đi vì lo lắng.
-
Bé San tỉnh dậy rồi. Mèn ơi, đừng làm cô
sợ nghen con. Chi mà sốt lên ba chín phết năm độ vậy nè? - Cô Nhiên cũng đang ở
bên San. Cô khẽ reo. Mừng rỡ.
- Cha ơi cha, cho Nắng chạy chơi đi nghe
cha. – San nói vậy rồi nói những gì, những gì nữa, nửa mơ nửa tỉnh rồi lại ngủ
quên đi lúc nào không biết.
Sáng. San đã dậy được hẳn.
Cơn sốt hôm qua làm San cảm giác nhức nhừ, người vẫn hâm hấp nóng hơn bình thường.
Cha San bên cạnh, dỗ
đút cho San ăn từng muỗng cháo. Cha bảo San:
-
Lúc nào con khỏe, mình đem Nắng về thả lại
rừng.
- Vậy ai chơi với con? – San buột miệng hỏi
liền không chút suy nghĩ, dù San rất muốn Nắng được thả ra khỏi cái chuồng.
-
Con có nhiều bạn ở trường con mà. Nhà của
Nắng là ở rừng, ở đó có những bạn gấu giống nó, gọi là đồng loại. Nó phải cùng
sống tự do với đồng loại ở rừng thì nó mới có một đời gấu đúng nghĩa con ạ.
San cố ăn hết chén cháo,
chu môi ngụm nước nuốt vội những viên thuốc đắng mà cha đưa cho. Ngoài hiên, tiếng
chim hót tiu rich, tiu rich, chẳng đoán được là chim gì. San nhìn ra. Những
cánh hoa vàng chanh nhẹ bẫng rơi bay rải rắc vào tận trong nhà. Thương chi lạ.
Cũng may mà vừa đúng dịp
San nghỉ mùa hè. Cha cho San theo, mượn thêm hai người bạn của ông nữa, cùng
đem Nắng về rừng. Phòng xa, ông còn đem thêm cây súng bắn gây mê. Cha San đã
lên bản nhiều lần để chữa bệnh cứu người, ông được dân bản thương như người của
bản. Già bản cứ dặn dù bản làng có nghèo đói đến đâu, cái chân cha San lên cũng
có nhà sàn để ở, cái mền để đắp, hột gạo để ăn. Cái bụng người đồng bào thẳng
ngay không biết nói dối.
Về đến bản. Cha và các
bác hè nhau chung sức khiêng cả chuồng lẫn Nắng xuống. San đứng nhìn. Nắng nhìn
lại. Nắng ngoan. Rên ư ư. Bàn chân ngập miết trong miệng. Ư ư. Tộp tộp. Chắc thằng
nhỏ cũng đoán chừng nó sắp bị đem bỏ đi, chắc là nó phạm phải cái lỗi gì đó lớn
lắm. Ừ, lớn lắm, nên cha con San không thương cho nó ở cùng nữa.
- Nắng. Rừng của mày đây rồi… Ra đi con.
Ra mà về với rừng. – Cha San mở cửa chuồng. Bác Nhi tay xăm xắm cầm khẩu súng
gây mê để bắn khi cần. Gấu Nắng men mén bò ra, ngơ ngác lén nhìn lên San rồi lại
nhìn sang cha. Ánh mắt ngơ ngác và sợ hãi không hiểu điều gì sẽ xảy ra. Đến tội.
Y chang cái lần đầu tiên cha San gặp nó.
Nắng ra cách chuồng được
chừng một mét. Nằm nhoài xuống. Ra chiều ngẫm ngợi. Rồi đứng dậy, ục ịch đi về
phía… San.
Cha đưa tay xua Nắng.
-
Đi đi con. Về với rừng đi con.
Nắng cúi mặt lầm lũi giả
tảng như không nghe thấy. Bàn chân to bè lại nhét vào miệng. Tộp tộp.
Vài tiếng sau. Cha và
các bác hội ý. Tiêm cho Nắng một liều thuốc mê. Rồi cứ thế mà mang Nắng vào sâu
trong rừng, chừng đến lúc Nắng tỉnh thuốc thì mọi người đã đi về bản rồi. Dám
chắc là nó chịu quen thôi, rừng là nhà của nó mà.
Nào ngờ, hai ngày sau,
San đang ngủ thì nghe tiếng sột soạt. Chó các nhà đánh động nhau sủa ran một chốc
rồi sợ hãi nín thít. San nghe tiếng ư ư. Tộp tộp. Nghe mùi nồng nồng hăng ngọt
rất quen. Mùi lông thú khô khẳn, mùi đất nung âm ấm, mùi cơm nếp đến độ, mùi củ
khoai củ mì cháy hơi khê lẫn lộn vào nhau. Cái mùi không lẫn vào đâu được. Nắng.
Và cái mũi ướt át của nó mừng rỡ hít ngửi liếm láp lên mặt San. San thương lắm,
San không sợ chút nào dù rằng nếu cha mà thấy cảnh này chắc là sẽ sợ thót tim
mà bắn cho Nắng thêm một liều thuốc mê mất.
San dậy khỏi giường. Vừa
dỗ vừa ép kéo Nắng ra khỏi nhà. Bàn chân con vật bám sườn sượt vào sàn gỗ. Ánh
mắt ướt như nằn nì xin ở lại. San thua. Sức em không kéo nổi.
Cha San lặng lẽ đứng
nhìn từ lúc nào. Nắng ư ư. Đem chân nhét vào miệng. Tộp tộp. San ngước nhìn
lên.
-
Cha…
Cha San không nói gì.
Ông lấy xích sắt vòng qua chân Nắng, khóa lại vào cột dưới nhà để Nắng không
leo lên được. Nắng ư ư, mắt ươn ướt hờn dỗi nhưng không dám phản kháng. Nó chỉ
cần được ở đây thôi, ở gần bên San.
Cha điện thoại cho cô
Nhiên. Cha bảo rằng ngày mai cô sẽ lên đây, cùng với một “người bạn đặc biệt”.
Tạm thời thì cứ cho Nắng ở lại phía dưới sàn nhà như thế đã, nhưng phải cẩn trọng.
Sáng. San dậy sớm khi
sương còn bảng lảng khắp vườn. Em ngồi bậc thang trên cùng, nhìn xuống. Nền đất
khá thấp. Nắng nghe mùi San nhìn lên. Nếu không bị xích chân lại bên dưới thì
nó đã leo lên mà miết cái mũi ướt của nó vào San ngay tắp lự rồi. Gấu Nắng đập
một chân trước vào cây cột. Rên rỉ. Nước dãi thằng nhỏ chảy ướt mèm, bàn chân
trước còn lại nhét vào miệng mà bú. Tộp tộp, nghe đến là thương.
Đến khi mặt trời qua gần
nửa bên kia núi, cô Nhiên và “người bạn đặc biệt” mới tới. Đó là một cụ bà trạc
chừng bảy mươi tuổi. Mắt bà chứa cả bầu trời xanh thẳm hiền dịu. Mái tóc bà bạc
cước. San chưa thấy người ngoại quốc bao giờ nên cứ trố mắt lên nhìn bà. Bà
cùng cô Nhiên bước tới. Trước khi bước lên nhà sàn, họ phải đi qua chỗ bé Nắng
đang ở đó. Bà cụ như bà tiên trong cổ tích, cúi xuống, cọ mũi với Nắng và đưa
tay gãi nhẹ bờm lông của nó. Nắng kêu nho nhỏ những tiếng “brừ, brừ” ra chiều
thích thú. Bà bước lên từng bậc gỗ, đến sàn nhà. San vẫn ngồi nhìn, em ngạc
nhiên quá nên không biết phải chào hỏi ra sao. Cô Nhiên giới thiệu San và bà
Jane. Bà Jane cúi xuống hôn lên má em. Tựa như thân quen tự thuở nào.
Cô Nhiên nói chuyện với
bà. Cô kể những gì những gì, San không hiểu. Bà Jane gật gật đầu. Bà lại hôn phớt
lên má San lần nữa rồi bước xuống dưới chỗ Nắng. Lúc nãy bà nói bằng thứ ngôn
ngữ của bà với San. Vậy mà San tin là mình hiểu. San còn đoán rằng bà biết nói
tiếng muôn loài. Giờ đây bà ngồi với Nắng thật lâu. Chẳng biết trò chuyện điều
gì. Mà lạ. Trước giờ Nắng chưa bao giờ chịu bỏ cái tật bú bàn chân trước. Tộp tộp.
Bà Jane đưa tay nắm lấy bàn chân trước của Nắng. Cọ cọ cánh mũi mình vào mũi nó
kêu nho nhỏ “brừ brừ” rồi cười khúc khích. Tựa hồ như đang chế giễu một cách âu
yếm. Gấu Nắng tròn xoe mắt nhìn. Ngượng ngại. Từ lần đó nó gần như là bỏ hẳn
cái thói bú chân này. Lúc nào thèm lắm, nó nhìn lấm lét xung quanh, xem rõ hẳn
là không có ai, vội đưa chân lên miệng, tộp tộp, rồi lại bỏ xuống ngay lập tức.
Bà Jane nói chuyện với
cha San. San ôm cái cột ngồi hóng hớt nghe tiếng được tiếng mất. Thật ra nghe
rõ tiếng chưa chắc đã hiểu hết, nhưng nhìn ánh mắt, cử chỉ của bà Jane, San
cũng lờ mờ đoán được nội dung câu chuyện.
Cha San đưa cho bà cây
súng bắn gây mê. Bà Jane lắc đầu, cười.
Trời bắt đầu xám sẫm,
bà Jane đã sửa soạn hành trang để vào rừng. Thường thì cứ khi đêm xuống, là lúc
gấu Nắng linh động nhất. Còn nhớ cái hồi ở nhà, mới bị nhốt trong chuồng, ban
ngày nó nằm ườn ra uể oải còn khi đêm tối, cha con San ngủ thì nó đập bộp bộp
vào cái lồng rồi kêu ư ư như bắt dỗi.
Từ cửa rừng, đi sâu vào
chừng trăm mét, bà Jane chu môi, đưa tay chụm lại để vang hơn và kêu lên một
tràng âm lanh lảnh. San nghe tiếng kêu đáp lại, rồi sột soạt, chao chuyền trên
những cành cây nào không biết, ba con vượn bạc má đu tới. Một con tay nắm chặt
cành cây, tay còn lại đưa xuống giật phắt cái kính gài trên tóc bà Jane. Bà
nhìn lên cười, khục khẹc gì đó với ngôn ngữ của nó. Con vượn trả chiếc kính lại
cho bà và vạch lối dẫn đường cho đoàn người – bà Jane, cô Nhiên, cha con San và
hai người bạn của cha, cùng nhân vật quan trọng nhất, mắt cum cúp buồn rầu quyến
luyến nhưng chân vẫn phải bước theo đoàn – Gấu Nắng. San không hiểu bà Jane đã
nói với những con vật ấy những gì, sao mà chúng nghe lời bà đến vậy, sự nghe lời
không phải do sợ hãi, mà dường như bởi chúng không muốn làm cho người bà phúc hậu
này buồn lòng.
Đi chừng hai cây số nữa
thì con vượn bạc má dẫn mọi người đến một trảng đất rộng gần lạch suối. Bà Jane
hết ngửa mặt lên rồi cúi xuống săm xoi như muốn lật cả đất lên. Cánh mũi bà
không ngừng phập phồng, có lúc hít vào thở ra khìn khịt như đang đánh hơi. Bà
reo lên. Tìm ra rồi. Dấu chân của những con gấu chó. Ước đoán là một gấu mẹ và
hai gấu con, gấu con cũng chừng chừng cỡ tuổi với bé Nắng.
Lần theo dấu chân, đi một
quãng, mọi người cũng gặp được mẹ con nhà gấu. Gấu mẹ gừ lên dữ tợn, lấy thế hằm
hè như ý định xông vào tát người. Bé Nắng cum cúp ra ý sợ hãi. Mãi sau này nhớ
lại cái cảnh đó, San mới thấy buồn cười, Nắng cũng là gấu chó mà, nhưng nó lại
coi San, cha San là đồng loại chứ không biết rằng những con thú lông đen sẫm có
viền vàng hình móng ngựa trước ngực đang sắp sửa đối đầu kia mới thực sự là đồng
loại của nó. Cô Nhiên có bảo với San, vì nó gắn bó với người và bị tách biệt
hoàn toàn với đời sống ở rừng nên chưa kịp thích nghi. Đáng ra trước khi đem từ
nhà thả ra rừng thì nó phải được trải qua một giai đoạn sống bán hoang dã, tức
là trong môi trường nửa tự nhiên dưới sự giám sát chăm sóc của con người. Nhưng
trường hợp bé Nắng, bà Jane đã táo bạo chọn một cách khác thông thường.
Con gấu mẹ gừ lên lần nữa.
Ánh mắt hăm dọa. Cha San đưa súng gây mê lên, định bắn. Bà Jane phẩy nhẹ tay,
ra hiệu ý với cha San. Đừng bắn. Bà Jane quỳ gối ngồi xuống. Hai tay bà dang ra
như chờ đón điều gì đó. Môi bà khẽ mấp máy, những tiếng “brừ brừ” nho nhỏ, càng
lúc càng rõ dần, lên lên xuống xuống theo một điệu thức nào đó. Con gấu mẹ dịu
xuống. Ánh mắt quay nhìn hai đứa con nhỏ, rồi lại ngước lên nhìn bà Jane. Giữa
trảng rừng với những con người đứng xung quanh, hai gấu con rúc vào bú mẹ. Thốt
nhiên, gấu Nắng tội nghiệp mơ hồ thèm lắm một điều gì không rõ. Tộp tộp. Nó lại
bắt đầu đưa cả bàn chân trước lên bú. Bà Jane vẫn ngân nga cái giai điệu “brừ
brừ” bí ẩn của bà như trò chuyện với đại ngàn. Nắng bước lên trước, cũng len sà
vào gấu mẹ, đưa một bàn chân chạm như đùa giỡn. Gấu mẹ khẽ gầm gừ. Tiếng rừng
xào xạc. Môi bà Jane giần giật nhẹ, hai cánh hoa thẫm màu run lên bật ra âm “brừ
brừ”. Hai con gấu con thôi bú, nhường chỗ cho đứa em lạc bầy không biết từ đâu
mới đến. Gấu Nắng sung sướng sà vào. Tộp tộp. Con gấu mẹ chẳng có chút phản ứng
chối từ.
Đoàn người lặng lẽ trở
về. Ánh mắt nụ cười như mãn nguyện. Tạm biệt nhé, Nắng. Rồi gấu mẹ sẽ dạy cho
ba đứa con của nó, có Nắng, những bài học của rừng.
Lại tiếp thêm một buổi
sáng bãng lãng ẩm ướt đến lạ lùng của mùa hè. Đến lúc cha San và các bác phải
trở về để tiếp tục công việc. Lạ. Bà Jane và cô Nhiên ở lại với bản.
- Cha ơi, sao bà Jane và cô Nhiên không về
cùng mình? – San ra ý thắc mắc.
-
Bà Jane và cô Nhiên sẽ ở lại để bày dạy
mọi người làm nghề thủ công, trồng cây tăng gia, làm chuồng nuôi heo lấy thịt
cho người đồng bào đỡ cực. – Cha San không dừng tay sửa soạn đồ, đáp lại.
– Chỉ khi người đồng bào thoát đói,
thoát nghèo được thì họ mới không hại chết muôn loài khác trong rừng, con ạ.
-
Cha ơi, bao giờ bà Jane và cô Nhiên về với
mình?
-
Họ là những nhà bảo tồn mà con. Họ ở lại
đây. Khi nào cánh rừng này lành lặn, họ lại đi tới những cánh rừng đang bị tổn
thương khác.
- Nhà bảo tồn là gì ạ? – San ngơ ngác hỏi.
-
À… - Cha dừng hẳn tay lại, suy ngẫm đoạn
thủng thẳng giải thích. – Họ cũng là bác sĩ như cha vậy đó. Nhưng bệnh nhân của
họ là rừng, là biển, là trời, là cả trái đất này, con ạ.
-
Cha ơi… Làm sao để trở thành nhà bảo tồn?
Cha San im lặng. Chưa
biết trả lời ra sao cho San hiểu. Cách quãng, bà Jane đang đứng cầm những ngọn
lạt đan thành chiếc giỏ xách cho những người đồng bào nhìn mà tập theo. Bỗng
đâu nghe tiếng hú vọng, bà Jane hướng theo tiếng động, chú tâm nghe ngóng, mắt
dõi về cửa rừng. Đoạn bà chu môi lại, vang lên những tràng âm dài lanh lảnh đáp
lời chào hỏi của một loài vượn voọc nào đó.
-
Cha ơi… Con biết rồi. – Ánh mắt San sáng
lên.
-
Sao con? – Cha San nhíu mày.
-
Cha nhắm mắt lại nghe… – San vừa nói vừa
đưa hai bàn tay bé lên che lấy mắt cha.
…
-
Brừ brừ. Tộp tộp. Brừ brừ. – San bè môi
ra, bập bập môi lại bắt chước tiếng Gấu Nắng.
- Brừ brừ. Brừ brừ. – Bà Jane quay qua mỉm
cười và đáp lại tiếng San.
Cha San vẫn chẳng hiểu
gì. Ông chỉ nghe mùi đất rừng rất đậm trên bàn tay con mình và những tiếng brừ
brừ vô nghĩa. Gió xào xạc. Lá xào xạc. Đại ngàn đáp lại những âm brừ brừ ngân
nga hát về câu chuyện một chú gấu nhỏ đang mải mê nô đùa cùng bạn bè nơi trảng
rừng ngập nắng và hương gỗ mật…
Hình ảnh minh họa từ trang ZooBorns