01-12-2014

Chợt ngang qua bầu trời - Truyện ngắn của Tuệ An

Minh họa: Văn Nguyễn
Bây giờ thì thằng bé nhà tôi đã mười một tuổi, khỏe mạnh và ngoan.
Tôi ghi lại câu chuyện này, trước hết là cho con tôi, để nó biết về cuộc đời của cha mẹ và cuộc đời của chính nó bây giờ là từ đâu ra.
Còn nếu bạn đọc và thông cảm cho nhân vật tôi nhắc đến, thì tôi sẽ còn thấy nhẹ lòng hơn. Vì, dù tôi vô học, nhưng tôi luôn mong mình và vợ con, và những người từng được hưởng phước của anh ấy, sẽ không trở thành những kẻ vô ơn.
Tôi không cha, không mẹ, từ bé cứ bụi bờ vỉa hè. Nhưng tôi cũng không thấy có vấn đề gì lắm. Vì trời cho tôi khỏe mạnh và nhanh nhẹn, thiếu cái gì thì tôi ăn xin hoặc ăn cắp. Đồng bọn tôi đứa nào chẳng vậy. Trẻ đường phố mấy khi than vãn, và chừng nào cũng có thể là đủ. Một hay hai nắm cơm hay bao nhiêu nắm cơm thì cũng là bữa ăn trong ngày. Làm sao để dành được đến mai?
Không phải vì dạ dày của mỗi chúng tôi không có đáy, mà vì nếu không ăn kịp thì sẽ bị cướp mất. Đâu chỉ cơm, tiền cũng thế. Vậy nên chỉ nghĩ chuyện của một ngày. 
Nhưng rồi cả cái lũ vui vẻ tự do ấy một ngày kia bỗng được hốt vào nhà tình thương. Chúng tôi bắt đầu tập lối sống sạch sẽ quy củ hơn.
Chúng tôi được ăn đúng bữa, được học chữ, và được dạy để từ bỏ lối sống trộm cắp. Đứa nào cũng dạ rân. Nhưng dạ chỉ để mà dạ, chứ nhà tình thương cũng rất thiếu thốn, nên phải tìm cách làm cho đủ.
Vào những dịp có khách đến thăm, chúng tôi canh những người sơ hở để móc túi. Cả lũ thế là được một bữa no và vui. Không đứa nào giấu tiền riêng, vì sẽ bị cả băng đánh sống dở chết dở để trừng phạt.
Lang thang bán báo, bán vé số vài năm, rồi tôi được thuê đứng bán cà phê nơi hẻm gần trường học. Lúc đó tôi đã chín tuổi. Bà chủ quán cà phê vỉa hè thấy mặt tôi động lòng thương sao đó, bèn xin thầy quản lý nhà tình thương cho nhận tôi về làm con nuôi. Được có mẹ tôi thấy cũng hay, cho dù bà sai tôi chạy chân không bén đất suốt từ sáng đến tối.
Việc đầu tiên mà mẹ nuôi làm cho tôi là bà không gọi tôi là bằng cái tên Luồn nữa (tên mà bọn đường phố gọi, bởi khả năng chui luồn cực đỉnh của tôi) mà đổi lại là Nhường. Mẹ nuôi bảo, khiêm nhường là thành phần của đức hạnh, còn luồn cúi thì có gì hay. Tôi thì thấy chẳng khác nhau mấy, vì tên gì thì cũng không thể trèo lên đầu thiên hạ mà ngồi. 
Việc cuối cùng mẹ nuôi dành cho tôi, là sau khi bà chết, tôi được thừa hưởng cái quầy cà phê vỉa hè. Từ đó tôi có nghề và được làm chủ. Tôi trở thành chủ cái cà phê vỉa hè ấy từ lúc mẹ nuôi chết, đến nay, khi con tôi mười một tuổi, là đã hai chục năm.
Quán cà phê gần trường học cấp 2, trong lòng hẻm cụt, phía ngoài hẻm là đường lớn, được gọi là đường tranh. Tất tần tật các thể loại tranh từ sang đến sến, từ xịn đến dỏm, từ đắt đến rẻ… đều có thể tìm thấy ở đây.
Vì thế, khách hàng cà phê của tôi chủ yếu là bọn vẽ vời, còn lại là thầy cô giáo sai học trò đi mua.
Khi tôi đang tuổi mười tám, một hôm, lúc đang lúi húi cho bột cà phê vào cái phin lớn thì hắn bước vào:
- Cho một đen đá, thím.
Tôi lầm lũi pha rồi bưng ra cho khách. Hắn ngồi uống và hí hoáy ký họa trên cái tập giấy lem nhem mang theo. Chừng tàn chiều thì hắn đứng dậy trả tiền. Tôi cầm tiền, hắn bước đi, như bao khách hàng khác.
Nhưng đến lần thứ năm, khi hắn tới quán và vẫn gọi tôi bằng cái kiểu gọi ngứa tai ấy:
- Cho một đen đá, thím.
Thì tôi cực kỳ khó chịu. Tôi đường đường là một thằng đàn ông, sao hắn dám gọi tôi xách mé như thế. Tôi bước đến khi hắn đang cắm cúi vẽ, hắt cả ly cà phê vào mặt hắn.
- Tao không phải thím à nha! - Tôi hét lớn, chuẩn bị đả nhau với hắn một trận sống chết. 
Nào ngờ hắn chỉ nhẹ nhàng xếp mớ giấy vẽ, mấy cây chì và đủ thứ tùm lum vừa bày ra bàn vào cái xắc cói, đứng lên, nhún vai, cười cười, mặt hiền khô:
- Đùa chút mà.
Rồi hắn bỏ đi, nhẹ bẫng. Tôi chẳng có lý do gì để đòi tiền ly cà phê, càng chẳng có lý do để đánh nhau với hắn. Sau này tôi mới hiểu tại sao hắn cư xử như thế, dù với tôi hay với tất cả những kẻ cố tình gây sự cùng hắn.
Tôi cứ nghĩ hắn sẽ không bao giờ trở lại quán cà phê vỉa hè này nữa. Nào ngờ sáng hôm sau hắn lại mò đến. Hắn ngồi im re, nhìn lên đưa tay ngoắc ngoắc để thay việc gọi tôi là “thím” như hôm trước. Hắn hỏi:
- Tên gì?
- Nhường - Tôi đáp.
- Bao tuổi?
- Mười tám.
- Ờ, vậy thua tuổi tao.
Mày thích gọi tao bằng anh hay mày tao?
- Thua nhiêu? - Tôi hỏi.
- Hai - Hắn đáp.
- Vậy mày tao mẹ nó rồi - Tôi cười. Tự dưng thấy vui nên cười, chứ chẳng phải để lấy lòng khách.
- Cái quán mày đẹp thật đó - Hắn khen.
- Vỉa hè có gì mà đẹp -
Tôi ngượng.
- Không, cái chỗ tao ngồi rất thích - Hắn soạn mọi thứ lên bàn. Mắt hắn có tí lơ mơ nhìn lên tầng cao, tán cây, và một khoảng trời mờ mờ buổi sáng.
Đến đoạn đó thì có khách gọi, tôi lại chạy đi.
Ngày nào cũng như ngày nào, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, hắn luôn đến đây vào buổi sáng và gọi:
- Cho một đen đá, Nhường.
Riết rồi quen, hắn không cần gọi, tôi tự bưng đen đá ra. Hắn ngồi cà phê và hí hoáy gì không rõ, từ sáu giờ sáng đến tám rưỡi sáng mỗi ngày. Hắn lầm lũi và khó bắt chuyện. Vậy nhưng hắn quan sát nét mặt tất thảy bọn người vào ra cà phê, có khi kỹ càng trơ trẽn, có khi chỉ bằng cái liếc mắt nửa vời.
Có bữa hắn hỏi tôi:
- Sao mặt mày buồn thiu?
Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:
- Ủa, biết hả?
- Biết gì?
- Biết tao buồn!  
- Ờ - Hắn gục gặc, rồi đi đến chỗ ngồi quen cũ, lôi tập giấy ra hí hoáy.
Hôm đó hắn ở lại lâu hơn. Nắng cao cao tí, khách vắng hết. Còn mỗi hắn. Tôi đang ngao ngán việc dọn hàng. Tôi buồn, và chỉ mỗi hắn nhận ra. Tôi lại ngồi nói chuyện với hắn. Tôi tự kể lể dù hắn không tra hỏi.
- Tao thích con Tân đầu phố.
- Con nào? - Hắn ngước lên, nét môi khe khẽ cười.
- Con Tân, bán thịt heo ấy.
- Ừ. Thì sao? 
- Không sao cả - Tôi tần ngần, rồi dọn dẹp hàng quán.
Bữa khác, lại như thế, tôi lại chạy tới chỗ hắn ngồi mà kể lể. Chỉ vì hắn là người duy nhất nhận ra tôi buồn, và hắn là người cuối cùng ngồi đó khi tôi dọn hàng.
- Tao thích con Tân đầu phố - Tôi hít thở sâu, liếm môi, căng thẳng.
- Ờ - Hắn kiểu như không quan tâm.
- Bà Ba Béo bán rau cạnh hàng nó bảo tao côn đồ - Tôi thú nhận.
Hắn chẳng nói gì. Tôi tiếp:
- Ông Hùng xích lô thì nói là tao không cha không mẹ.
Hắn cũng chẳng nói gì.
- Mấy người đi mua thịt kể tao thế này thế kia.
Lúc ấy hắn mới hỏi:
- Thế em Tân bảo sao?
- Chả bảo gì - Tôi thở dài.
Hắn cười:
- Mày tin tao đi. Mấy chuyện kia chả quan trọng. Em mà không chịu thì đã chối thẳng rồi. Gái chợ mà.
Tôi ậm ừ. Hắn lầm bầm:
- Ông già tao hay bảo chẳng thể nào tới đích nếu cứ dừng lại ném đá vào mấy con chó trên đường chỉ vì tiếng sủa của chúng.
Ờ há! Tôi thấy chí lý quá. Và tôi hiểu ra cách cư xử ôn hòa dường như chẳng quan tâm điều gì của hắn. Mẹ nuôi thì hay dạy tôi khiêm nhường, chịu nhịn. Còn ông già hắn dạy con kiểu khác. Không luồn, không nhường. Chó cứ sủa, đoàn người cứ đi.
Tôi nhờ hắn vẽ chân dung con Tân. Hắn bảo hắn không thích vẽ tranh để cua gái. Thế thì chán bỏ mẹ. Nghệ thuật vị nghệ thuật chứ nghệ thuật vì gái thì vứt.
Nhưng một bữa, hắn đem bức tranh con Tân đến cho tôi. Hắn bảo tao vẽ vì khắc ấy đi ngang qua hàng thịt thấy đẹp thật, không quên được.
Chả phải chân dung dịu dàng tươi cười kiểu những bức hình con Tân đi chụp ở ảnh viện. Hắn vẽ con Tân đang bặm môi, chau trán, tay cầm dao lia trên thớ thịt. Bức tranh đẹp thật. Nắng rót trên bầu má hồng hồng, cái trán hơi nhăn dằn dỗi, cái vẻ say sưa với công việc pha thịt ra từng miếng. Tôi thích bức ấy lắm, thấy đẹp, nhưng không dám đem tặng Tân.
Đàn bà chỉ muốn phô diễn cái đẹp khuôn mẫu hàng mã nào đó chứ ít ai muốn phô cái tự nhiên bản chất. Còn đàn ông vì mê cái tự nhiên bản chất đó mà phải cố gật gù tỏ ra thích cái đồ hàng mã kia. 
Không tặng con Tân chân dung, nhưng nhờ lời khuyên không quan tâm đến tiếng sủa trên đường của hắn mà tôi dạn hơn. Đánh nhau với năm sáu thằng một lúc tôi còn cảm giác vững lòng hơn trước đứa con gái mình thích. Hắn bảo thích là phải nhích. Con gái hơ hớ mày không tới thì thằng khác tới, mất ăn ráng chịu.
Tôi chuyện trò nhiều hơn, ghé mua thịt thường xuyên hơn… Bữa cơm của tôi được cải thiện, hắn cũng có bữa được hưởng lây. Đúng như hắn nói, con Tân chẳng chút e ngại chuyện tôi là dân bụi đời. Nó còn có vẻ khoái, bảo em mê các nhơn vật giang hồ hảo hớn từ bé, ước ao mãi, giờ gặp mặt, phải lòng anh đúng rồi.
Tôi kể cho hắn. Hắn phá lên cười. Bảo lần đầu tiên trong đời tao thấy biết ơn tiểu thuyết ba xu. Nhờ thế mày cua được gái.
Cuối năm đó, tôi với con Tân cưới nhau. Về ở cái nhà nho nhỏ của con Tân. Nhà nó nghèo, nhưng dù sao cũng hơn tôi chả có gì. Hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn, đứa bán thịt, đứa bán cà phê.
Hai năm sau thì có thằng cu. Thằng cu lớn từng ngày, tập ngồi, tập đi... Cái tình bạn nhiều năm ròng rã giữa tôi và hắn giờ cộng thêm thằng cu nữa. Hắn có vẻ khoái thằng cu còn hơn khoái tôi. Đối với hắn có lẽ tôi chỉ là thằng bán cà phê vỉa hè, hắn là khách, thế thôi, không hơn. Còn thằng cu hắn mê như điếu đổ. Hắn vẽ mọi hoạt động của thằng cu rồi đem ký họa về xưởng vẽ lại. Hắn bảo đời không có bọn oắt này với mấy lão sắp chết như ông già của hắn, không có cà phê, không được vẽ... thì vô nghĩa lắm.
Tôi thấy hắn thích trẻ con, trọng gia đình vậy, hắn vừa đẹp trai, vừa có tài, vậy mà… Đến tôi còn kiếm được vợ nữa là hắn. Tôi muốn hỏi nhưng ngại. Thôi kệ, nhiều chuyện có khi lại bị hắn ghét không chừng.
Một ngày... hai ngày... nhiều ngày hắn không ghé. Thằng bé con hỏi hoài, tôi không biết trả lời sao.
Rồi hắn cũng trở lại, người xơ rơ như hồn ma. Tôi hỏi bệnh à? Hắn chẳng đáp, ngồi gác chân lên chiếc ghế cạnh bên. Một chốc, một gã đến, cũng nửa người nửa ngợm gầy xơ như hắn. Nhưng gã này mặt đanh cứng, vô cảm. Khi nói, môi dưới gã hơi trề ra run run. Nhìn dáng gã lờ đờ nhưng mắt thì láo liên, rất nhanh. Gã làm nghề buôn tranh.
Tôi nghe gã nài nỉ hắn bán, còn hắn thì chửi thề với gã. Biến đi. Đừng để tao thấy mặt mày. Tao không mua bán gì sất. Hắn đuổi gã đi. Hiếm khi tôi thấy hắn cư xử với ai lỗ mãng thế. Tôi vờ ngu, chả thấy gì. Hắn là khách, tôi là thằng bán cà phê, dù tình bạn cũng đã bao năm trời.
Hắn lại ngày ngày đến cà phê buổi sáng.
Rồi tự dưng mình thằng bé con nhà tôi cứ có những vết bầm thâm như bị ai đấm. Nghĩ chắc bọn trẻ nghịch ngợm, nên tôi cũng không để tâm. Nhưng rồi sức khỏe nó cứ tụt dần, hay sốt, hay đi ngoài, người tiếp tục xuất hiện những vệt bầm trên da... Đến lúc ấy vợ chồng tôi mới đem con đi khám. Ung thư máu. Trời ơi!...
Tôi bật khóc. Tôi không nhớ lần khóc đầu tiên trong đời nên tôi cảm giác đó là tiếng khóc duy nhất tôi đã bật ra trong cõi sống khốn cùng. Ung thư như cái án tử hình treo trên đầu con tôi.
Sáng dọn cà phê, đứng bán kiếm tiền, xác tôi đó, hồn trong bệnh viện. Vợ tôi đóng sạp, bỏ bán. Hắn đến, hỏi. Tôi kể bệnh tình thằng bé. Tôi cũng kể tiền trong nhà không còn, nên chắc phải đưa thằng bé về. Bệnh ấy ngốn tiền lắm, mà chưa chắc sống được. Hắn bảo, chưa đổ tiền sao biết. Nhưng không có tiền sao đổ được? Thì tao cho mượn.
Tôi nhìn hắn, bộ dạng hắn chả vẻ gì có tiền. Hắn gọi điện cho gã mặt rắn đanh buôn tranh hôm trước đến. Bảo tao ô kê, kêu người qua lấy tranh đi.
Tôi bất ngờ vì số tiền bán tranh, nhất là những tranh hắn bảo chép của người khác thì lại càng được giá. Hắn chép như thần, nhìn vào không phân biệt được thật giả.
Đằng đẵng cuộc chiến giành giật mạng sống con tôi với bệnh ung thư hơn nửa năm trong bệnh viện. Cũng may là phát hiện sớm. Tám tháng sau thằng bé xuất viện, mỗi tháng tái khám và tiêm thuốc một lần, theo dõi liên tục ba năm, qua được quãng đó là thoát.
Vợ chồng nhìn nhau mừng chảy nước mắt, nhìn lại số tiền nợ hắn từ ngày đầu mà thấy nóng lạnh. Có làm việc cả đời cũng không sao trả được.
Chưa kịp nghĩ cách để trả nợ thì không thấy hắn đến nữa. Một hôm, hai hôm,… một tháng, hai tháng… Nửa năm sau, vợ chồng tôi ngơ ngác nhìn nhau.
Tôi đi tìm hắn. Đến xưởng tranh, người ta cho địa chỉ nhà hắn. Nhà hắn vẫn còn ông già đang sống, nhưng hắn thì đã chết vì sốc thuốc.
 Hắn là một họa sĩ tài hoa và cũng là một con nghiện. Ông già bảo hắn không chơi ma túy, nhưng do một căn bệnh trong người mà y học bó tay. Những đau đớn phải chịu đựng mỗi ngày của hắn chỉ có thể giảm bớt khi được dùng morphin.
Tôi nhớ ra hắn chưa hề viết bất cứ giấy nợ nào cho vợ chồng tôi.
Tôi hỏi ông già, hắn có dặn dò gì về chuyện cho tôi mượn tiền chữa bệnh cho con không. Ông già bảo, hắn chết rồi, tính hắn tao biết, việc thi ân như đôi dép vứt bỏ. Đừng bận tâm.
Trời ơi, số tiền đó, một đời tôi bán cà phê không trả nổi, đừng bận tâm sao được...
Nhưng hắn chết rồi.
Sau đó, vài bức tranh chép của hắn bị phát hiện, người ta chửi hắn là tên đạo chích nghệ thuật đã thành thần, chép không để lộ ra một sơ suất.
Sự phát hiện ấy chỉ do tình cờ. Nhưng người ta bắt đầu rà soát lại tất cả những bức tranh của hắn, như một vụ án hy hữu.
Người bị lừa cay đắng nguyền rủa mà không thể làm gì được, vì hắn đã chết rồi.
Còn con tôi đang sống. Con tôi đã giữ được mạng sống nhờ tiền từ những bức tranh của hắn.
Tôi viết lại những trang này, trước hết cho con tôi đọc. Và để trả nợ, để thanh minh cho hắn.
Bạn ơi, có lẽ hắn chỉ chép để chơi, không phải để bán. Nhưng khi biết tôi đang cần một món tiền lớn cho con mình...
Thôi thì nhục vinh gì cũng đã xong một cuộc đời. Lúc sống, ai nói gì hắn còn chả quan tâm.
Huống gì khi hắn đã chết rồi...

09-07-2014

Áo trắng

Ngày xưa khi còn bé
Tôi yêu quá cuộc đời
Tôi yêu thương loài người
Ngồi vẽ lấy tương lai...






Nhưng hôm nay không còn trẻ nhỏ như xưa
Tôi thấy tôi là chiếc bóng phai mờ
Nhưng hôm nay không còn một hồn bao la
Tôi thấy tôi là chút vết mực nhoè


*Ngày xưa khi còn bé - Trịnh Công Sơn

26-06-2014

Vũ điệu trái tim




Truyện ngắn của Tuệ An


Thằng bé về tới nhà, mặt sưng đỏ, nước mắt nước mũi tèm lem:
-          Mẹ. Con không đi học nữa đâu.
-          Sao vậy? – Yên biết sẽ có chuyện này xảy ra, nhưng cố thể hiện thái độ thản nhiên nhất có thể - như với những-đứa-trẻ-bình-thường khác.
-          Các thầy cô “dị ứng” với con. – Thằng bé gào lớn, nức nở.
Yên nghe xót lòng. Cô ngồi bên con, chờ cơn xúc động của nó nhẹ đi, rồi bảo con kể lại nghe.
Thằng bé đã được sinh ra với một khuôn mặt dị dạng. Không ai muốn điều đó cả. Yên không muốn, nó lại càng không muốn. Trời bắt thì phải chịu. Nhưng có những người không chịu, như ba thằng bé đã kinh hoàng đến nỗi không chấp nhận được sự thật. Và bỏ đi.
Yên nghĩ nguyên do có thể là từ những tháng ngày cô đã miệt mài nghiên cứu về độc chất. Đam mê của mẹ hại đời con rồi Phương! Giá như ngày ấy mẹ chọn một công việc gì nhẹ nhàng và an toàn hơn.
Thằng bé  học cấp 1, cấp 2 trong những trường dành riêng cho trẻ khuyết tật. Những đứa trẻ không khuyết cái này thì khuyết cái kia, nhờ thế chúng dễ dàng chấp nhận cái khuyết của nhau, và thương nhau. Vấn đề bắt đầu xảy ra khi thằng bé lên cấp 3. Yên muốn thằng Phương được sống hòa nhập với cộng đồng – với những-người-bình-thường.
Nhưng… trẻ em ở ngôi trường bình thường ấy thấy ghê sợ khuôn mặt nó, không ai chơi với nó. Và các thầy cô bộ môn, dù không nói hay tỏ thái độ thẳng thừng với nó nhưng lại góp ý riêng với giáo viên chủ nhiệm. Họ thấy mất tập trung và khó giảng bài khi thấy nó. Để rồi, thầy chủ nhiệm gọi nó lại, bảo:
-          Em xuống góc cuối lớp kia ngồi. Khuất mặt càng tốt. Các thầy cô “dị ứng” với em.
Thằng bé đã ngồi nơi được chỉ định đó, úp mặt xuống bàn mà khóc, cho đến lúc tan trường. Để rồi mẹ nó thấy con với khuôn mặt đã dị dạng bẩm sinh rồi lại còn sưng đỏ vì khóc quá nhiều và nước mắt nước mũi tèm lem ấy.
Xót con lắm, Phương ơi.
Cũng là chuyện lựa chọn câu nói, lại là người dạy học, mà không thể hiểu tại sao vị thầy giáo ấy có thể phát ngôn được câu đó – với một đứa trẻ vốn dĩ đã thiệt thòi hơn những đứa trẻ khác.
Thằng bé dứt khoát không chịu đi học ở ngôi-trường-bình-thường đó nữa. Yên phải tìm một trung tâm dành riêng cho trẻ khuyết tật, ở nơi đó chương trình văn hóa được dạy như các lớp bổ túc. Các thầy cô là người-bình-thường như những ngôi-trường-bình-thường khác. Điểm dị biệt, có lẽ là trái tim họ lớn hơn.
Hai mẹ con đến trường đúng vào giờ học thể dục.
Những học viên khuyết tật ngồi trên xe lăn. Và họ đưa mình nhảy múa theo tiếng nhạc. Vũ điệu từ thân mình, từ đôi tay, từ mái tóc,… từ những gì còn lại – ngoài đôi chân.
Thầy giáo là một vũ sư đã từng dạy dance-sport ở nhiều nước trên thế giới. Ở độ tuổi sung sức và đỉnh cao danh vọng, anh trở về. Một miền đất nghèo, nhược tiểu, kém phát triển… Nhưng đó là quê hương của mình. Anh thèm nghe người ta nói tiếng Việt, và anh sửng sốt khi nghe những thanh âm không tròn, từ những khuôn miệng méo mó, phải cố gắng lắm để phát âm. Tại sao quê anh nhiều người khuyết tật như thế?
Và anh lại đi, đi để tìm hiểu, để học hỏi về một loại hình khiêu vũ mới. Vật lý trị liệu cho những người khuyết tật bằng vũ điệu đã giúp cho những người khuyết tật, những người già phải ngồi xe lăn được vận động, và họ khỏe mạnh, tự tin hơn để hòa nhập với cộng đồng…
Hai mẹ con say sưa đứng xem lớp học.
-          Con thấy sao, Phương?
-          Con thích. – Thằng bé cười, khuôn mặt của nó khi cười lại càng bị méo, nhưng trong lòng chị thì hiểu niềm vui của con tròn đầy.
Chị hỏi thầy giáo trong lớp học. Con chị chỉ bị khuyết tật về phần mặt và sống lưng. Còn chân tay thì bình thường. Tham gia cùng mọi người, có sao không?
Vị thầy giáo gương mặt hiền lành, những bắp cơ khỏe mạnh, chắc chắn và gọn gang của một vũ sư rất cuốn hút. Và khiến cho lòng người ở lại nhất, có lẽ là từ tiếng nói trầm ấm của anh:
-          Có sao đâu chị. Mỗi người một cảnh. Có em khuyết cái này, có em khuyết cái kia, làm sao để các em phát huy tối đa được những phần không khuyết của mình và tự tin hòa nhập vào xã hội.
Chị cũng mong thằng Phương vậy. Nhiều khi nhìn con thui thủi một mình, chị thấy lòng mình xót vô cùng. Cảm giác có lỗi với con khi không cho con được một hình hài tròn vẹn.
Chị kể cho thầy nghe về cách đối xử ở trường cũ của thằng bé. Nhìn gương mặt tội nghiệp của bà mẹ, thầy giáo thở dài…
-          Đôi khi người ta cũng không ác ý hay ghét bỏ gì thằng bé đâu chị. Chỉ là lỗi ngớ ngẩn về ngôn từ, còn mình có tật thật thì nhạy cảm và dễ giật mình, dễ tổn thương. Như vừa rồi cũng có một số báo đài đến đây viết bài về lớp học khiêu vũ cho người khuyết tật. Người ta mô tả các em ở đây là “những hình nhân dị dạng nhún nhảy”, khiến các em đọc được rất bức xúc… Tôi cũng không biết nói sao.
Tiếng nhạc chuông điện thoại của chị vang lên. Lời ca từ một bài hát của Trịnh mà chị đã cài như câu dỗ dành cho lòng anh, lòng chị và nhiều người…
Dù ngày mưa hay nắng
Bông hoa vẫn là người
Một đàn chim rất trắng
Trong sân đứng xinh tươi
Em là ai?
Em là ai?
Mắt chị cảm giác cay xè. Là người. “Bông hoa vẫn là người.” Và thằng Phương cũng là người. Thằng bé say mê với lớp học mới. Nơi đó dường như không ai quan tâm tới chuyện hình hài nó như thế nào. Nhưng chị ước ao, giá như cách đối xử đó ở bất cứ nơi nào cũng vậy. Và chị nhớ đến “Chuyện con mèo dạy hải âu bay” của Luis Sepúlveda. “Thật dễ dàng để chấp nhận và yêu thương kẻ nào đó giống mình, nhưng để yêu thương ai đó khác mình thực sự rất khó khăn.”
Nhưng do họ hay do mình? Do xã hội kì thị, ghét bỏ thằng bé, hay do chính thằng bé đã không thể mở lòng ra hòa nhập với họ? Những câu hỏi phân vân chạy nhiều ngày trong đầu chị. Bất cứ điều gì cũng không được nhìn phiến diện một chiều. Mình không thể óan trách mọi người được. Và cũng không thể mãi bảo bọc thằng bé trong cái kén an toàn… Biết đâu một ngày ta chết đi? Chị không dám chắc một điều gì ở tương lai, nhất là khi công việc của chị luôn khiến cho chị có thể lìa đời bất cứ lúc nào nếu lỡ như sơ sẩy.
Chị đem những điều ngổn ngang trong lòng chia sẻ với các thầy cô của con. Thì cứ cho cháu học ở trung tâm người khuyết tật một thời gian, cháu có cái may mắn hơn những người khác là chân tay lành lặn và có thể tự làm được nhiều thứ. Nhưng điều cần nhất là làm sao để cháu tự tin hòa nhập. 
-          Phương, thầy dạy dance sport bảo con có thể phụ thầy đấy.
-          Con mà làm được gì.
-          Con khỏe mà, con có thể đỡ cho các bạn nữ khi biểu diễn các động tác khó.
-          Nhưng mẹ ơi, con không thể biểu diễn.
-          Tại sao?
-          Người ta sẽ cười con!
-          Không ai cười con cả. Người ta nhìn vào động tác của con. Biểu diễn vũ đạo chứ đâu phải biểu diễn nhan sắc mà con lo!
Chị nói lớn giọng, hơi gay gắt. Thằng bé im lặng, suy nghĩ.
Và thằng bé đồng ý tham gia chương trình khiêu vũ của lớp học mà ngày đầu tiên hai mẹ con đến tình cờ gặp đó.
Thi thoảng chị lén đứng nhìn con qua song cửa, thấy lòng mình như được làm đầy. Hi vọng.
Đêm. Hai mẹ con đi bộ ngay con đường trước nhà. Thằng Phương ngửa cổ nhìn trời hỏi mẹ.
-          Hôm nay không rằm, trăng không tròn há mẹ?
-          Ừ. Trăng khuyết có cái đẹp của trăng khuyết, con.
Thằng bé nhìn trăng. Gật đầu đồng ý. Nghe tiếng đá lạo xạo dưới bước chân đi của hai mẹ con.
Sài gòn, 26 .05.2014